Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 05/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XM, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 77/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 05 tháng 7 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện XM xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 404/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2018 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2019/QĐST- HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Q, sinh năm: 1974 (Có mặt).

HKTT: 96B/4, ấp BR, xã PT, huyện XM, tỉnh BR -VT.

Nơi ở: 152/18 đường YB, phường 4, thành phố VT, tỉnh BR -VT.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1968 (Vắng mặt).

Địa chỉ: 96B/4, ấp BR, xã PT, huyện XM, tỉnh BR -VT.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/8/2018 bản khai và các biên bản làm việc tiếp theo tại Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn – Bà Lê Thị Q trình bày:

Bà Q chung sống như vợ chồng với ông Nguyễn Hữu T từ năm 2006 đến năm 2018 nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà Q và ông T bất đồng quan điểm, thường phát sinh cãi vã, ông T nhiều lần đánh đập bà Q. Đến cuối năm 2011 bà Q phát hiện ông T chung sống với người phụ nữ khác và đã có 02 người c on. Bà Q đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T không thay đổi. Bà Q và ông T ly thân từ tháng 6/2018 đến nay, không còn quan hệ quan lại gì về mặt tình cảm cũng như kinh tế.

Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Q yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T.

Về con chung: Bà Q và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 17/4/2007 và Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 14/12/2009, hiện nay 02 con chung đang sống với bà Q. Bà Q yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và tự nguyện không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Hữu T đến tham gia hòa giải nhiều lần nhưng ông T vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án lập biên bản về việc vắng mặt đương sự không tiến hành hòa giải được để có cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Tại các phiên Tòa ông T đều vắng mặt không có lý do.

Phát biểu quan điểm của Kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự còn bị đơn vắng mặt tại các buổi làm việc trước đây cũng như tại các phiên tòa là chưa chấp hành đúng pháp luật. Vụ án còn để kéo dài quá thời hạn xét xử nhưng không có quyết định gia hạn là còn thiếu sót nhưng không gây ảnh hưởng lớn đến nội dung vụ án đề nghị Tòa án rút kinh nghiệm.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc không công nhận là vợ chồng và giải quyết con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Quan hệ tranh chấp: Bà Lê Thị Q yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông Nguyễn Hữu T, đây là quan hệ pháp luật ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1, Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Hữu T có nơi cư trú tại địa bàn huyện XM nên căn cứ theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh BR – VT.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Nguyễn Hữu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông T vắng mặt không có lý do. Vì vậy việc xét xử vắng mặt ông T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Q và ông Nguyễn Hữu T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2006 đến tháng 6/2018 nhưng không đăng ký kết hôn. Xác nhận của UBND xã PT, huyện XM cho thấy bà Lê Thị Q và ông Nguyễn Hữu T có chung sống với nhau từ năm 2008 đến năm 2018 nhưng chưa đăng ký kết hôn là đúng sự thật. Do đó, hôn nhân giữa bà Q và ông T đã vi phạm Điều 9 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Mặc khác, bà Q và ông T là những người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, do đó không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH 10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội quy định “Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi ... nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, đều không được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng...” như vậy hôn nhân của bà Q và ông T không được pháp luật bảo vệ. Bà Q có yêu cầu ly hôn nhưng hôn nhân giữa bà Q và ông T không đăng ký kết hôn, nên xét không chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Q, mà tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Q và ông Nguyễn Hữu T theo quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Bà Q và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 17/4/2007 và Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 14/12/2009, hiện nay 02 con chung đang sống với bà Q.

Xét yêu cầu nuôi con của bà Q cho thấy, từ khi bà Q nộp đơn và Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay ông T không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình về việc bà Q có yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét nguyện vọng của cháu T và cháu M cho thấy các cháu có nguyện vọng ở với bà Q nên Tòa án căn cứ vào thực tế và các quy định của Luật hôn nhân và gia đình, nên giao cháu T và cháu M cho bà Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà Q không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của bà Q nên được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Áp dụng Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1, Điều 28, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Các Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Q đối với ông Nguyễn Hữu T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Lê Thị Q và ông Nguyễn Hữu T.

2. Về con chung: Bà Bà Q và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Quốc T, sinh ngày 17/4/2007 và Nguyễn Thị Thảo M, sinh ngày 14/12/2009. Bà Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Quốc T và Nguyễn Thị Thảo M. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Bà Lê Thị Q phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Q đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003079 ngày 31/8/2018 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện XM, tỉnh BR – VT. Bà Q đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh BR – VT xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

200
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 77/2019/HNGĐ-ST ngày 05/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:77/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Xuyên Mộc - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 05/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về