Bản án 76/2020/HSST ngày 27/06/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - TP.HÀ NỘI

BẢN ÁN 76/2020/HSST NGÀY 27/06/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 27 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Ch, sinh 1981 tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn TL, xã VL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: Lớp 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc B và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị L (tức L1); Con: 03 con, lớn nhất sinh 2005, con nhỏ nhất sinh 2013; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/01/2020 đến ngày 22/01/2020; hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1995 (vắng mặt):

- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 1998 (vắng mặt):

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do biết Nguyễn Văn Ch bán số lô, số đề nên ngày 21/01/2020, Nguyễn Văn D đến nhà Ch mua số lô 27 - 140 điểm (mỗi điểm 23.000đ) với số tiền 3.220.000đ và 02 số đề 27, 72 (mỗi số 40.000đ) với số tiền 80.000đ. Ch nhận tiền và giao cho D 01 mảnh cáp ghi số lô, số đề để làm căn cứ Th toán khi có kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng. Sau khi bán cho D xong thì Nguyễn Văn Th đến mua số lô 31 - 100 điểm với số tiền 2.300.000đ. Ch nhận tiền của Th nhưng chưa kịp ghi cáp lô cho Th thì bị Tổ công tác Công an xã VL kiểm tra, thu giữ của Nguyễn Văn Ch 04 mảnh giấy nhỏ dùng làm cáp ghi số lô, số đề; 01 điện thoại Vivo; 01 tờ giấy A4 có ghi các số lô, số đề đã bán cho khách và 6.460.000đ; thu giữ của D 01 mảnh giấy ghi số lô, số đề và 100.000đ.

Bản cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 26/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai: Gia đình bị cáo mở một cửa hành tạp hóa nên có nhiều khách mua hàng. Từ năm 2015, bị cáo thỉnh thoảng ghi số lô, số đề cho khách đến mua hàng tạp hóa nhưng bị cáo không nhớ rõ thời gian. Khi ghi lô, đề, có lúc bị cáo tự bán số lô, số đề cho khách, nhưng đa số bị cáo ghi lô, đề rồi chuyển bảng cho anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1970, địa chỉ: ĐT, XG, Sóc Sơn, Hà Nội bằng điện thoại hoặc zalo để hưởng hoa hồng là 13% trên tổng số tiền khách mua đề và 500 đồng/1 điểm lô. Ngày 21/01/2020, bị cáo tự bán số lô, số đề cho D, Th và một số khách bị cáo không nhớ tên, tổng số tiền bị cáo bán số lô, số đề là 6.460.000đ. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn D, anh Nguyễn Văn Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai trong hồ sơ thể hiện: Chiều ngày 21/01/2020, D, Th đến mua lô, đề tại cửa hàng tạp hóa nhà Ch. D mua số lô 27 - 140 điểm và 02 số đề 27, 72, tổng số tiền mua lô, đề là 3.300.000đ; Th mua số lô 31 - 100 điểm với số tiền 2.300.000đ. Khi Ch chuẩn bị ghi cáp lô, đề cho Th thì kiểm tra, bắt giữ người cùng tang vật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ quyền công tố tại phiên tòa trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, thân nhân của bị cáo, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn Ch mức án từ 7 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 20 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 mảnh giấy ghi các số lô, số đề; 01 mảnh giấy ghi nội dung “27/12, lô 27 140, đề 27, 72/40”. Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo và 6.460.000đ đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 21/01/2020, tại thôn TL, xã VL, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Nguyễn Văn Ch có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho Nguyễn Văn D số tiền 3.300.000đ, Nguyễn Văn Th số tiền 2.300.000đ và các đối tượng khác, tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 6.460.000đ. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội, là nguyên nhân phát sinh những hành vi vi phạm pháp luật khác, đồng thời làm cho tình hình trị an tại địa phương thêm phức tạp. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, số tiền sử dụng vào việc đánh không lớn, vì vậy thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Đối với hành vi mua số lô, đề của Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn Th: Do số tiền D, Th sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000đ và đều chưa có tiền án, tiền sự về tội này nên không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn ra quyết định xử lý hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với D, Th là phù hợp.

Đối với các đối tượng khác mua số lô, số đề của Ch ngày 21/02/2020: Do Ch không nhớ tên, tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý.

Đối với Nguyễn Văn M: Quá trình điều tra, Ch khai ghi số lô, số đề cho M để hưởng phần trăm hoa hồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai của Ch không còn tài liệu nào khác chứng M hành vi của M nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Nguyễn Thị L (vợ Ch) không tham gia bán số lô, số đề cùng với Ch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn không đề cập xử lý.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định quy định hình phạt tiền đối với người phạm tội. Xét thấy bị cáo làm ruộng, thu nhập thấp nên không áp dụng.

[4]. Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn có thu giữ 04 mảnh giấy ghi các số lô, số đề của Ch và và 01 mảnh giấy của D ghi “27/12, lô 27 140; đề 27, 72/40”. Xét đây là tang vật của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo, bị cáo sử dụng để chuyển bảng lô, đề cho M và số tiền 6.460.000 đồng là tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung công.

Đối với số tiền 100.000đ thu của Nguyễn Văn D, Cơ quan điều tra không chứng M được D sử dụng vào việc đánh bạc nên trả lại anh D.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt Nguyễn Văn Ch 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Ch cho UBND. xã VL, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 04 mảnh giấy ghi số lô, số đề; 01 mảnh giấy của D có nội dung “27/12, lô 27 140; đề 27, 72/40” (Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

Tịch thu sung công 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo của Nguyễn Văn Ch và 6.460.000 đồng (Theo quyết định chuyển tiền vật chứng số 28/QĐ-CQCSĐT ngày 26/6/2020). Trả lại anh Nguyễn Văn D số tiền 100.000đ.

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự./.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2020/HSST ngày 27/06/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:76/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sóc Sơn - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về