Bản án 76/2019/HS-ST ngày 22/08/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG - TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 76/2019/HS-ST NGÀY 22/08/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 22 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2019/TLST-HS, ngày 06 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Văn M, sinh ngày 14/4/1991 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Bùi Văn T, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974; vợ: Ngô Thị X, sinh năm 1991; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015;

Tiền án: Có 01 tiền án:

Ngày 26/4/2016 Tòa án nhân dân huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội Buôn lậu. (Bản án số 13/2016/HSST ngày 26/4/2016). Ngày 24/01/2017 thi hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/7/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

* Người làm chứng:

1. Khương Hồng S, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

2. Bùi Ngọc T, sinh năm 1985. Trú tại: Thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

3. Nguyễn Thế M, sinh năm 1988. Trú tại: Thôn V, xã T, huyện, tỉnh Tuyên Quang.

4. Nguyễn Văn H sinh năm 1996. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

5. Nguyễn Trung N, sinh năm 1993. Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

6. Hoàng Văn T, sinh năm 1992. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

7. Khương Mạnh L, sinh năm 1994. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

8. Hà Anh T, sinh năm 1990. Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

9. Lương Văn C, sinh năm 1989. Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

10. La Văn Q, sinh năm 1994. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

11. La Thị N, sinh năm 1979. Trú tại: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

12.Trần Thị Vân A, sinh năm 2001. Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

(Các nhân chứng đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 10 phút ngày 19/12/2018, tại khu vực đồi Keo của ông Lê Thành L thuộc thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Khương Hồng S; Nguyễn Trung N; Bùi Ngọc T; Hà Anh T về hành vi đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Tang vật thu giữ gồm: Thu trên chiếu bạc 21.000.000 đồng, 02 bát sứ màu trắng, 01 đĩa sứ màu trắng, 04 quân đóm một mặt đen, một mắt trắng. Nguyễn Trung N tự giao nộp 2.400.000 đồng, Hà Anh T tự giao nộp 1.000.000 đồng. Tổng cộng: 24.400.000 đồng (Hai mươi bốn triệu bốn trăm ngàn đồng).

Quá trình điều tra chứng minh: Khoảng 14 giờ ngày 19/12/2018, Khương Hồng S, Nguyễn Trung N, Bùi Ngọc T, Hà Anh T, La Văn Q, Khương Mạnh L, Hoàng Văn T cùng rủ nhau đến khu vực đồi Keo của gia đình ông Lê Thành L thuộc thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền, mức sát phạt từ 50.000 đồng trở lên. Sau đó một số đối tượng khác đến tham gia đánh bạc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương các đối tượng khai nhận:

1. Khương Hồng S có 3.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, không xác định thắng thua khi bị phát hiện để tiền xuống địa điểm đánh bạc và cơ quan Công an đã thu giữ.

2. Nguyễn Trung N là người chuẩn bị 02 bát sứ và 01 đĩa sứ màu trắng, có 2.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, thắng 2.400.000 đồng, khi bị phát hiện để tiền trên chiếu bạc và đã nộp 2.400.000 đồng cho cơ quan Công an.

3. Bùi Ngọc T có 1.500.000 đồng sử dụng đánh bạc, không xác định thắng thua, khi bị phát hiện đã để tiền trên chiếu bạc và cơ quan Công an đã thu giữ.

4. Hà Anh T có 1.000.000 đồng sử dụng đánh bạc, không xác định thắng thua, khi bị phát hiện đã giao nộp 1.000.000 đồng cho cơ quan Công an.

5. La Văn Q có 100.000 đồng tham gia đánh bạc thua hết, khi bị phát hiện bỏ chạy, sau đó đến cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương khai nhận hành vi đánh bạc của bản thân.

6. Khương Mạnh L có 1.200.000 đồng tham gia đánh bạc thua hết, khi bị phát hiện bỏ chạy, sau đó đến cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương khai nhận hành vi đánh bạc của bản thân.

7. Hoàng Văn T có 1.600.000 đồng tham gia đánh bạc thua hết, khi bị phát hiện bỏ chạy, sau đó đến cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương khai nhận hành vi đánh bạc của bản thân.

8. Nguyễn Thế M có 200.000 đồng tham gia đánh bạc thua hết, khi bị phát hiện bỏ chạy sau đó đến cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

9. Nguyễn Văn H có 50.000 đồng tham gia đánh bạc thua hết, khi bị phát hiện bỏ chạy sau đó đến cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

10. Lương Văn C là người cắt quân bạc, có 600.000 đồng tham gia đánh bạc thua hết, khi bị phát hiện bỏ chạy sau đó đến cơ quan CSĐT Công an huyện Sơn Dương khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

11. Bùi Văn M là người xóc cái cho các bị cáo đánh bạc và tham gia đánh bạc với số tiền 780.000 đồng thua hết. Sau khi phạm tội Mạnh đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 23/4/2019 bị truy nã, ngày 10/7/2019 đầu thú và bị bắt theo quyết định truy nã.

Tổng số tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc xác định là 12.030.000 đồng nhưng tổng số tiền Cơ quan điều tra thu giữ được là 24.400.000 đồng, còn chênh lệch số tiền 12.370.000 đồng không biết là của bị cáo nào. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về số tiền này. Các bị cáo tham gia đánh bạc đến 15 giờ 10 phút cùng ngày thì bị phát hiện và bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.

Tại Cáo trạng số 87/CT-VKS, ngày 06 tháng 8 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Bùi Văn M về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối bị cáo theo tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn M từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với luận tội và không có ý kiến tham gia tranh luận gì đối với luận tội của Kiểm sát viên. Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản xác minh hiện trường; lời khai người làm chứng và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 19/12/2018, tại khu vực đồi Keo của ông Lê Thành L thuộc thôn Đ, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo Bùi Văn M đã và các đối tượng tham gia đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền, mức sát phạt từ 50.000 trở lên. Bị cáo M là người xóc cái cho các đối tượng đánh bạc và tham gia đánh bạc với số tiền 780.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo M và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 12.030.000 đồng nhưng tổng số tiền Cơ quan điều tra thu giữ được là 24.400.000 đồng, còn chênh lệch số tiền 12.370.000 đồng không biết là của đối tượng nào do vậy bị cáo và các đối tượng phải chịu trách nhiệm chung về số tiền này.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu t rách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền do bị cáo thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Là nguyên nhân dẫn đến một số vi phạm pháp luật khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sát phạt nhau trái phép bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào đều là trái pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi, ham chơi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.Trong vụ án này, bị cáo M là người trực tiếp đánh bạc và xóc cái cho các đối tượng khác đánh. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Sau khi phạm tội bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho cơ quan điều tra và phải ra Quyết định truy nã. Vì vậy, cần xử bị cáo phải chịu hình phạt tù giam mới cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Bị cáo và các đối tượng khác tham gia đánh bạc với vai trò là đồng phạm giản đơn, không có tổ chức, không xác định được ai là người người rủ rê, khởi xướng và đều là người thực hành.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Bùi Văn M phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản gì riêng có giá trị, là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Vật chứng của vụ án đã được xử lý tại bản án số 69/2019/HSST ngày 05/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Các vấn đề khác: Đối với các đối tượng Bùi Ngọc T, Hà Anh T, Hoàng Văn T, Khương Hồng S, Khương Mạnh L, La Văn Q, Nguyễn Trung N, Nguyễn Thế M, Nguyễn Văn H, Lương Văn C đã được xét xử tại bản án số 69/2019/HSST ngày 05/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; đoạn 1 điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn M phạm tội “Đánh bạc”.

* Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn M 07 (bảy) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 10/7/2019.

* Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án:

- Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.


98
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2019/HS-ST ngày 22/08/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:76/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Sơn Dương - Tuyên Quang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về