Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 15/11/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 76/2018/HNGĐ-ST NGÀY 15/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 15 tháng 11 năm 2018 tại Toà án nhân dân huyện Minh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 55/2018/TLST - HNGĐ ngày 18/9/2018 về việc “ Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 575/2018/QĐXX- ST ngày 15/10/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đ T C Trú tại: Thôn T S, xã Y H, huyện M H, tỉnh Q B. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đ M P Trú tại: Thôn T S, xã Y H, huyện M H, tỉnh Q B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 18/9/2018 và bản tự khai ngày 05/10/2018 của nguyên đơn Đ T C trình bày giữa chị và anh Đ M P đã đăng ký kết hôn năm 1999 tại Ủy ban nhân dân xã Y H, huyện M H, tỉnh Q B trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc và đã sinh được 02 người con. Sau đó hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau gây mất đoàn kết gia đình, hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy chị C làm đơn yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn cho chị.

Con chung của vợ chồng: Hai vợ chồng có 02 người con chung là cháu Đ Q Á sinh ngày 15/3/2001 và cháu Đ B Q sinh ngày 08/10/2004. Sau khi ly hôn nguyện vọng của chị C là được nuôi dưỡng cháu Á và cháu Q và các cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị C yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) một tháng.

Tài sản chung và khoản vay chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Sau khi thụ lý vụ án Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã triệu tập anh P nhiều lần nhưng anh P không đến Toà án để giải quyết vụ án. Toà án đã đến tại cơ sở và xác minh thì biết được anh P đã đi làm ăn ở xa, khi đi anh không khai báo tạm vắng vì vậy không thể xác định được địa chỉ của anh P. Căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Ngày 01/11/2018, Toà án nhân dân huyện Minh Hoá đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm ly hôn đối với chị C và anh P. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh P vẫn vắng mặt nên Toà án đã hoãn phiên toà vì vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa hôm nay anh P vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Đ T C và anh Đ M P đã đăng ký kết hôn năm 1999 tại Ủy ban nhân dân xã Y H, huyện M H, tỉnh Q B trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai ép buộc nên coi đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nhưng do anh chị không thông cảm cho nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống mà hai bên không khắc phục được dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét thấy nguyện vọng của chị Chiến xin được ly hôn là chính đáng cần chấp nhận, áp dụng Khoản 1, Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Đ T C được ly hôn với anh Đ M P.

[2] Về con chung: Áp dụng Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao chị Đ T C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là các cháu Đ Q Á sinh ngày 15/3/2001 và cháu Đ B Q sinh ngày 08/10/2004 vì các cháu có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Xử buộc anh Đ M P đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho mỗi cháu một tháng là 500.000 đồng ( Năm trăm nghìn đồng), tổng số tiền cấp dưỡng nuôi con mà anh P phải đóng góp là 1.000.000 đồng ( Một triệu đồng) một tháng cho đến khi cháu Đ Q Á và cháu Đ B Q tròn 18 tuổi.

[3] Tài sản chung và khoản vay chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

[4] Án phí: Chị Đ T C và anh Đ M P có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo được Ủy ban nhân dân xã Y H xác nhận nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đ T C được ly hôn với anh Đ M P.

2. Về con chung: Xử giao chị Đ T C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là các cháu Đ Q Á sinh ngày 15/3/2001 và cháu Đ B Q sinh ngày 08/10/2004. Xử buộc anh Đ M P đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho mỗi cháu một tháng là 500.000 đồng ( Năm trăm nghìn đồng), tổng số tiền cấp dưỡng nuôi con mà anh P phải đóng góp là 1.000.000 đồng ( Một triệu đồng) một tháng cho đến khi cháu Đ Q Á và cháu Đ B Q tròn 18 tuổi. Việc cấp dưỡng được thực hiện kể từ tháng 11/2018. Không ai được ngăn cản việc đi lại chăm sóc con chung, khi cần thiết vì quyền lợi của con một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Đ T C và anh Đ M P có hoàn cảnh khó khăn thuộc diện hộ nghèo được Ủy ban nhân dân xã Y H xác nhận nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trường hợp bên phải thi hành án do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán quy định tại Khoản 2 Điều 357 bộ luật Dân sự mà không có thỏa thuận lãi suất thì thực theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự được xác định mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất quá hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự để trả cho bên được thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Tuyên bố nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 15/11/2018), bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại UBND xã Y H để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.


44
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 76/2018/HNGĐ-ST ngày 15/11/2018 về ly hôn

    Số hiệu:76/2018/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Minh Hóa - Quảng Bình
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:15/11/2018
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về