Bản án 76/2017/HSST ngày 16/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 76/2017/HSST NGÀY 16/11/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16/11/2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện S thuộc tổ dân phố L, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Tòa án nhân dân thành phố Q mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 92/2017/HSST ngày 06/10/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị T, sinh ngày: 10/8/1984; nơi đăng ký HKTT: Thôn 6, xã E, thị xã B, tỉnh Đ; chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Q; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; con ông Nguyễn M (chết) và bà Trần Thị C; chồng là Nguyễn Đ, có 04 con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh ngày 23 tháng 12 năm 2014; tiền sự : Không

Tiền án:

- Ngày 04/9/2013 bị Tòa án nhân dân quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngày 04/11/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2017 đến ngày 30/6/2017 cho tại ngoại; có mặt.

Người bị hại: Chị Từ Thị H, sinh năm: 1991

Địa chỉ: Thôn P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Q, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Thị T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Ngày 21/6/2017 Nguyễn Thị T đến Hội chợ ẩm thực Quảng Ngãi tổ chức tại tổ 24, phường Q, thành phố Q để xin việc làm nhưng không được. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T đến gian hàng phóng phi tiêu trúng thưởng và nhìn thấy chị Từ Thị H cùng với em trai đang đứng xem, trên vai chị H có đeo một giỏ xách màu hồng; túi xách không kéo khóa, bên trong có 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus để trồi ra ngoài. Thấy vậy, T nảy sinh ý định trộm cắp nên tiến lại và đứng sát sau lưng chị H. Quan sát xung quanh không thấy người nào để ý nên T dùng tay phải móc lấy điện thoại di động của chị H và cầm trên tay thì bị lực lượng Công an tỉnh Quảng Ngãi và lực lượng bảo vệ hội chợ bắt quả tang.

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập được.

Ngày 26/06/2017 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q đã tiến hành định giá và kết luận: 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, loại 16GB trị giá 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)

Tại bản cáo trạng số 83/QĐ-VKS ngày 04/10/2017 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 30 đến 36 tháng tù và tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Chị Từ Thị H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị T khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 21/6/2017 tại Hội chợ ẩm thực Quảng Ngãi bị cáo lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus của chị Từ Thị H bị thì bị Công an bắt quả tang.

Bị cáo là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuổi đời còn trẻ nhưng không lao động, học tập rèn luyện, để có tiền tiêu xài bị cáo đi trộm cắp tài sản của người khác. Ngày 04/9/2013 bị Tòa án nhân dân quận 7 thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng từ nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 12 tháng.

Trong thời gian thử thách, ngày 03/7/2014 bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội, ngày 04/11/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung còn lại của hai bản án là 13 tháng 29 ngày tù. Ngày 08/5/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk ra quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù vì lý do bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Ngày 21/6/2017 bị cáo tiếp tục trộm cắp điện thoại của chị Từ Thị H có giá trị 5.000.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm theo điểm c khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây tâm lý hoang mang cho nhiều người, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Từ Thị H đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt có phần nghiêm khắc, về dân sự là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, được trừ 10 ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 21/6/2017 đến ngày 30/6/2017), buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 23 tháng 20 ngày tù.

Áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp với hình phạt 13 tháng 29 ngày tù tại Bản án số: 39/2014/HSST ngày 04/11/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 (Ba) năm 01 (một) tháng 19 (Mười chín) ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2006 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật


63
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 76/2017/HSST ngày 16/11/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:76/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/11/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về