Bản án 75/2020/HS-PT ngày 25/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 75/2020/HS-PT NGÀY 25/02/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 668/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Trung BC1 và đồng phạm.

Do có kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2, Lê Nguyễn Trung BC3 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2019/HS-ST ngày 17-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1/ - Họ và tên: Nguyễn Trung BC1, sinh năm 1989.

- Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp.

- Nơi đăng ký HKTT: Số 995, Quốc lộ 30, ấp 1, xã C1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Trình độ học vấn: 9/12.

- Quốc tịch: Việt BC2; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không - Nghề nghiệp: Không.

- Cha: Nguyễn Trung T1, sinh năm 1961.

- Mẹ: Võ Thị Mỹ L1, sinh năm 1963 (chết).

- Bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ 01.

- Vợ, con: Không.

- Tiền án: 02 tiền án về tội Trộm cắp tài sản:

+ Ngày 20/8/2014 bị Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/4/2015.

+ Ngày 10/5/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 14/6/2016; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/6/2017.

- Tiền sự: Không.

- Tạm giữ: Ngày 25/8/2018 (khẩn cấp) - Tạm giam: Ngày 03/9/2018.

- Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ - Họ và tên: Đặng Lê Phương BC2, sinh năm 1992.

- Nơi sinh: tỉnh Thanh Hóa.

- Nơi đăng ký HKTT: Tổ 56, khóm 4, phường 2, TP C, tỉnh Đồng Tháp.

- Trình độ học vấn: 12/12.

- Quốc tịch: Việt BC2; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không - Nghề nghiệp: Sinh viên (Trường Cao đẳng Việt Xô - liên kết với Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Đồng Tháp, tại thành phố C, đang thực tập) - Cha: Đặng Thế B, sinh năm 1966 (còn sống); thương binh hạng 4/4.

- Mẹ: Lê Thị L2, sinh năm 1965.

- Bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02 - Vợ, con: Không.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Tạm giữ: Ngày 25/8/2018 (khẩn cấp) - Tạm giam: Ngày 03/9/2018.

- Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2: là Luật sư Nguyễn Bá T2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).

3/ - Họ và tên: Lê Nguyễn Trung BC3, sinh ngày 01/02/2000 - Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp.

- Nơi đăng ký HKTT: Số 212, tổ 63, khóm 5, phường 11, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Trình độ học vấn: 11/12.

- Quốc tịch: Việt BC2; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không - Nghề nghiệp: chăn nuôi.

- Cha: Lê Văn T3, sinh năm 1973 (còn sống).

- Mẹ: Nguyễn Thị Ánh C3, sinh năm 1974 (còn sống).

- Bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ 02 - Vợ, con: Không.

- Tiền án: Không; Tiền sự: 02 lần:

+ Ngày 23/7/2018 bị Ủy ban nhân dân phường 11, thành phố C áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành sử dụng trái phép chất ma túy.

+ Ngày 11/7/2018 bị Công an phường 11, thành phố C xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

- Tạm giữ: Ngày 20/8/2018 (khẩn cấp) - Tạm giam: Ngày 28/8/2018.

- Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

(Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Võ Khắc BC4, Nguyễn Đinh Trà BC5, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/8/2018, Nguyễn Trung BC1 rủ Đặng Lê Phương BC2, Nguyễn Võ Khắc BC4 thuê xe ô tô đi trộm tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài và mua ma túy cùng sử dụng. Khoảng 23 giờ ngày 24/8/2018, BC2 thuê xe ô tô Toyota Fotuner, biển số 66A-023.55 của Đặng Thành S1 ở phường 4, thành phố C chở BC1 và BC4 cùng đi đến nhà lồng chợ Bách hóa A2 thuộc khóm 2, thị trấn A1, Huyện A2, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 01 giờ ngày 25/8/2018, BC4 xuống xe dùng kiềm cộng lực mang theo cắt khóa cửa sắt bên hông nhà lồng chợ, cắt xong lên xe ôtô lái đến phía trước chợ hướng ra đường chính để cảnh giới. BC1 và BC2 mở cửa vào bên trong nhà lồng chợ, phát hiện tiệm bạc Việt Hà tại kios số 06 do anh Nguyễn Ngọc S2 sinh năm 1977 làm chủ, khóa ngoài bằng 03 khóa (01 ổ khóa và 02 khóa vòng), BC1 nâng ổ khóa lên cho BC2 dùng kiềm cộng lực và kéo cắt tol để cắt mở cửa vào. Bên trong có 04 tủ trưng bày bằng nhôm - kính, cửa tủ không khóa, trong tủ có nhiều nữ trang bạc. BC1 và BC2 kéo các ngăn cửa ra, lấy toàn bộ nữ trang trong 04 ngăn tủ cho vào 02 ba lô (01 ba lô dùng để đựng công cụ cắt khóa mang theo và 01 ba lô lấy trong nhà lồng chợ), BC1 lấy thêm 04 chiếc khay màu trắng đựng nhẫn rồi quấn vào cái mền có sẳn trong tiệm mang ra trước cửa, điện BC1 cho BC4 lái xe vào. BC1 ra xe ngồi, bảo BC4 và BC2 cùng mang tài sản trộm được ra xe.

Trên đường về, BC1 và BC4 gỡ số nhẫn bạc trong 04 khay nhựa cho hết vào trong ba lô. Đến nhà trọ của BC1, BC4 xuống xe về nhà của BC4, BC1 kêu Nguyễn Đinh Trà BC5 mở cửa, BC1 mang 01 ba lô nữ trang, BC5 mang 01 ba lô nữ trang vào phòng ngủ, BC1 và BC5 đổ ra tấm nệm trong phòng, BC2 mang 04 khay nhựa cùng vào phòng đóng cửa lại. BC5 hỏi BC1 “Ở đâu mà có nhiều vậy”, BC1 nói “Hỏi chi nhiều vậy”. BC5 biết rõ đây không phải là tài sản của BC1, BC2 mà đây là tài sản do phạm tội chiếm đoạt tài sản của người khác mà có. BC1 và BC5 kiểm đếm và phân loại ra theo từng loại nữ trang cho vào từng bọc riêng rồi để lại vào ba lô cất giấu trong phòng ngủ. BC1 kêu Nguyễn Đinh Tiến S3 (em ruột của BC5) thức dậy nấu mì cho BC1 và BC2 ăn, sau đó bảo S3 lấy xe mô tô đưa BC2 về nhà. Trong lúc phân loại nữ trang, BC2, BC1 và BC5 bàn bạc với nhau ngày hôm sau đi Thành phố Hồ Chí Minh tìm chỗ để bán.

Khoảng 09 giờ ngày 25/8/2018, BC2 lái xe ô tô 66A-023.55 chở BC1 và BC5 đi Thành phố Hồ Chí Minh bán số nữ trang trộm được. Trước khi đi, BC1 đưa lại cho S3 một túi vải đựng nữ trang do BC1 giữ lại để nhờ S3 cất giữ giùm, không nói là tài sản do trộm mà có, S3 không kiểm tra tài sản bên trong mà để vào cốp xe mô tô của S3, toàn bộ số nữ trang còn lại BC1, BC2, BC5 mang lên xe đi Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ.

Đối với Nguyễn Ngọc S2 phát hiện mất trộm tài sản nên trình báo Công an. Khi BC1, BC2, BC5 đến Trạm thu phí cao tốc Tân An thuộc tỉnh Long An, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT - PC02) Công an tỉnh Đồng Tháp kiểm tra phương tiện xe ôtô biển số 66A-023.55 do Đặng Lê Phương BC2 đang điều khiển, trên xe có Nguyễn Trung BC1 và Nguyễn Đinh Trà BC5, phát hiện đang cất giấu số lượng nữ trang bạc là tang vật trong vụ trộm. Cơ quan điều tra đã bắt người bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2 và Nguyễn Đinh Trà BC5, đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của BC1, BC5 và BC4, thu giữ các công cụ, phương tiện phạm tội và nhiều tài sản có liên quan trong các vụ án do BC1 và đồng phạm thực hiện, cùng 01 túi vải đựng nữ trang do BC1 gửi cho Nguyễn Đinh Tiến S3 cất giữ để điều tra làm rõ. Tổng số nữ trang bằng bạc thu giữ được định giá là 574.610.250 đồng, Cơ quan điều tra đã trao trả lại cho Nguyễn Ngọc S2 và không yêu cầu bồi thường thêm.

Đối với Đặng Thành S1 không biết các bị cáo thuê xe làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại xe cho anh Cường; đối với cái mền của tiệm bạc đã bị thất lạc không tìm được.

Đối với bị cáo Nguyễn Võ Khắc BC4, sau khi biết BC1, BC2, BC5 đã bị bắt, ngày 28/8/2018, BC4 đến Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Đồng Tháp đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Riêng bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 do trước đó đã bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố S khởi tố, tạm giam về tội Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 23/4/2018 tại số 15/E, khu dân cư Rạch Rẫy, khóm B1, phường B2, thành phố S.

Trong quá trình điều tra, BC1, BC2, BC4, BC3 khai nhận ngoài lần trộm tài sản tại tiệm bạc Việt Hà, cả nhóm còn thực hiện 13 lần trộm cắp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp, như sau:

* Lần thứ 01: Xảy ra ngày 25/3/2018 tại tổ 22, khóm B3, phường B3, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do Nguyễn Trung BC1, Lê Nguyễn Trung BC3 và Đặng Lê Phương BC2 thực hiện.

Bị hại:Dương Thị Ái N1, sinh năm 1997, ngụ số 270, tổ 9, ấp Đông Hòa, xã Tân Thuận Đông, thành phố C, Đồng Tháp.

BC1 rủ BC3 và BC2 đi trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, BC3 và BC2 đồng ý. Khoảng 23 giờ ngày 24/02/2018, BC1 lấy xe môtô loại Exciter biển số 78L1- 127.65 (do Nguyễn Đinh Trà BC5 là chủ sở hữu), chở BC3 đến đón BC2 tại nhà thuộc khu 500 căn, phường B3, thành phố C, sau cả ba chạy vào đường cặp bờ sông phía sau Công ty Domesco thì phát hiện nhà trọ Trương A thuộc khóm B3, phường B3, thành phố C có nhiều xe môtô. BC1 dừng xe lại, BC3 đi vào rút nguồn điện camera quan sát, BC1 dùng đoản mang theo phá khóa xe mô tô Honda SH Mode màu trắng, biển số 66P1-589.60 của chị Dương Thị Ái N1. Do nhà trọ có người còn thức, không lấy xe được nên BC1 chở BC3 và BC2 về nhà của BC1.

Khoảng 03 giờ ngày 25/3/2018 BC3 đi về nhà. BC1 lấy xe chở BC2 trở lại nhà trọ Trương A thấy mọi người đã ngủ nên BC1 mở cửa rào (không có khóa) vào trong dẫn chiếc xe SH Mode của chị N1 ra ngoài khởi động nổ máy về nhà của BC3 cất giấu, BC2 điều khiển xe của BC1 phía sau rồi BC1 đưa BC2 về. Qua ngày hôm sau, BC1 điện BC1 cho một người đàn ông quen biết qua mạng xã hội tên Giang N2 ở Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ, năm sinh, địa chỉ) để bán xe, sau đó có một người đàn ông gọi lại cho BC1 nói là bạn của Giang N2 muốn mua và hẹn gặp nhau tại bến xe C, BC1 mang xe đến bến xe C bán cho một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết họ tên, địa chỉ) được 13.000.000 đồng. BC1 chia cho BC2 5.000.000 đồng, BC3 2.000.000 đồng, còn lại 6.000.000 đồng BC1 cất giữ tiêu xài và mua ma túy đá sử dụng. Chiếc xe này chưa thu hồi được. Kết quả định giá xe môtô Honda SH Mode 66P1-589.60 là 45.000.000 đồng. Hiện nay bị hại Dương Thị Ái N1 yêu cầu các bị cáo BC1, BC3 và BC2 bồi thường giá trị của chiếc xe là 45.000.000 đồng.

* Lần thứ 02: Xảy ra ngày 23/4/2018 tại số 15/E, khu dân cư Rạch Rẫy, khóm B1, phường B2, thành phố S do Nguyễn Trung BC1 và Lê Nguyễn Trung BC3 thực hiện.

Bị hại: 1/ Mai Hoàng D, sinh năm 1963:

2/ Mai Ngọc Gia K, sinh năm 1996:

Cùng ngụ số 15E, KDC Rạch Rẫy, khóm B1, phường B2, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Vào đêm 23/4/2018, BC1 rủ BC3 đi trộm tài sản, BC1 điều khiển xe môtô Exciter biển số 78L1-127.65 của BC1 chở BC3 từ thành phố C đến thành phố S, phát hiện nhà của ông Mai Hoàng D đang khóa cửa ngoài nên dừng xe lại. BC3 lấy kiềm cộng lực mang theo đưa cho BC1 cắt khoen khóa cửa sắt của 02 ổ khóa rồi mở cửa sắt, phía trong cửa sắt có thêm 01 lớp cửa kính nên BC1 tiếp tục dùng tuốc-nơ-vít mang theo nạy chốt cửa dưới nền gạch cho BC3 đẩy vào mở được cửa kính. Cả 02 vào nhà, lên lầu lục soát trong hộc tủ đầu giường ngủ của Mai Ngọc Gia K là con của ông D, lấy một hộp nhựa hình vuông bên trong có nhiều nữ trang vàng các loại cho vào ba lô, xuống tầng trệt dẫn chiếc xe Honda SH màu trắng, biển số 66S1-218.49 ra ngoài. BC1 ngồi lên xe SH cho BC3 điều khiển xe Exciter đẩy phía sau, đi được một đoạn đến giữa một cây cầu BC3 không đẩy nổi nữa nên kêu BC1 bỏ xe lại. BC1 để xe lại giữa cầu rồi lên xe cho BC3 chở về nhà của BC3, kiểm tra hộp nữ trang có 01 sợi dây chuyền vàng, 02 chiếc lắc vàng, 01 vòng cổ tròn, 01 chiếc bông tai màu vàng và một sợi dây chuyền màu trắng. Sáng hôm sau, BC1 mang toàn bộ số nữ trang bán tại một tiệm vàng không nhớ rõ tên ở thị trấn Mỹ K2 được 41.500.000 đồng, còn sợi dây chuyền trắng tiệm không mua nên BC1 cất giữ, BC1 chia cho BC3 20.000.000 đồng, số tiền còn lại BC1 cất giữ, sau đó BC1 mang sợi dây chuyền trắng bán cho một tiệm vàng (không nhớ tên) ở chợ C được 13.000.000 đồng, tổng cộng BC1 được hường lợi 34.500.000 đồng tiêu xài hết.

Kết quả định giá tài sản: xe mô tô Honda SH biển số 66S1-218.49 trị giá 69.750.000 đồng, số nữ trang trị giá: 83.115.000 đồng, tổng cộng 152.865.000 đồng. Đối với ông D đã nhận lại được chiếc xe môtô không yêu cầu bồi thường thêm. Đối với số nữ trang của chị Khánh không thu hồi được, chị Khánh yêu cầu BC1 và BC3 bồi thường giá trị tài sản bị mất 83.115.000 đồng.

* Lần thứ 03: Xảy ra ngày 03/5/2018 tại ấp Mỹ Tây 2, xã K3, Huyện M,tỉnh Đồng Tháp do Nguyễn Trung BC1 và Lê Nguyễn Trung BC3 thực hiện.

Bị hại: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1985, ngụ ấp Mỹ Tây 2, xã K3, Huyện M, tỉnh Đồng Tháp.

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 03/5/2018, BC1 chở BC3 bằng xe mô tô Exciter biển số 78L1-127.65 của BC1 từ thành phố C đến Ngã 3 Đường K4 thuộc xã K3, Huyện M rồi rẽ vào khu dân cư, phát hiện nhà của anh Nguyễn Ngọc H ngụ ấp Mỹ Tây 2, xã K3, Huyện M đang khóa cửa ngoài bằng 02 ổ khóa (cửa rào và cửa chính bằng sắt). BC3 ngồi ngoài xe cảnh giới, BC1 dùng kìm cộng lực cắt khoen khóa cửa rào và cửa chính, vào trong nhà lấy 01 chiếc điện BC1 hiệu Samsung J7 prime màu đen đang sạc pin trên đầu tủ cây cho vào túi quần. Lúc này, BC3 thấy ánh đèn pin ngoài chợ Đường K4 rọi vào, sợ bị phát hiện nên kêu BC1 ra bỏ đi. Khoảng 15 phút sau, cả 02 trở lại nhà anh H lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode màu trắng nâu, biển số 66M1-294.32 của anh H.

BC1 lấy cây vít bake trong hộc tủ nhà anh H mở mặt nạ phía trước để cạy khóa bảo vệ ra rồi dùng đoản phá khóa xe dẫn ra ngoài nổ máy chạy đi, BC3 điều khiển xe Exciter của BC1 cùng về nhà BC3 cất giấu. Qua ngày hôm sau, BC1 điện BC1 cho Giang N2 bán xe nhưng Giang N2 nói không có người xuống lấy được nên kêu BC1 chạy xe đến thành phố K5, tỉnh Đồng Nai và bán cho một người đàn ông không biết tên với giá 13.500.000 đồng. BC1 chia cho BC3 5.000.000 đồng, còn lại 8.500.000 đồng cất giữ và tiêu xài hết. Đối với điện BC1 di động Samsung J7 prime do bị hư màn hình và có mật khẩu nên không sử dụng được, BC1 mở ra để tự thay màn hình không được đã bỏ mất.

Kết quả định giá tài sản chiếc xe mô tô Honda SH Mode biển số 66M1- 294.32 và điện BC1 tổng trị giá 45.500.000 đồng. Đối với xe mô tô 66M1- 294.32 của anh H sau đó bị Công an quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thu giữ và đã tiến hành trao trả lại cho anh H. Hiện nay Nguyễn Ngọc H không yêu cầu bồi thường về dân sự.

* Lần thứ 04: Xảy ra ngày 10/5/2018 tại tổ 1, ấp L1, xã L2, thành phố C do Lê Nguyễn Trung BC3 thực hiện.

Bị hại: Trương Thị N, sinh năm 1991, ngụ tổ 1, ấp L1, xã L2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Khoảng 00 giờ, ngày 10/5/2018 Lê Nguyễn Trung BC3 điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, biển số 66P1-736.18 (xe của mẹ ruột BC3) mang theo một ba lô đựng kiềm cộng lực và tuốc-nơ-vít đi tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, phát hiện tiệm uốn tóc Út N của chị Trương Thị N, ngụ tổ 1, ấp L1, xã L2, thành phố C làm chủ, cửa sắt đang khóa bên ngoài. BC3 dừng xe dùng kiềm cộng lực cắt khoen cửa vào nhà, lấy một con heo đất màu vàng trong ngăn tủ nhựa và tiền mặt trong túi xách để ở phòng khách (các loại tiền có mệnh giá từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng). BC3 về nhà kiểm tra số tiền vừa trộm được tổng cộng 2.400.000 đồng tiêu xài hết. Theo chị N khai tài sản bị thiệt hại là 3.600.000 đồng, yêu cầu BC3 bồi thường số tiền 3.600.000 đồng. BC3 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của chị N.

* Lần thứ 05: Xảy ra ngày 12/5/2018 tại khóm 2, thị trấn A1, Huyện A2, tỉnh Đồng Tháp do Nguyễn Trung BC1 và Lê Nguyễn Trung BC3 thực hiện.

Bị hại: Nguyễn Thị Tuyết X, sinh năm 1960, ngụ khóm 2, thị trấn A1, Huyện A2, tỉnh Đồng Tháp.

Vào khoảng 00 giờ, ngày 12/5/2018, BC1 điện BC1 rủ BC3 đi trộm. BC1 điều khiển xe Exciter, biển số 78L1-127.65 của BC1 chở BC3 đến khu dân cư ngang chợ A2 thuộc thị trấn A1, Huyện A2, tỉnh Đồng Tháp, phát hiện nhà của chị Nguyễn Thị Tuyết X có cửa rào và cửa chính đang khóa ngoài nên dừng xe lại. BC3 dùng kiềm cộng lực cắt khóa cửa rào vào trong sân, BC1 phát hiện cửa sổ bên hông nhà, loại cửa kính khung sắt không có song chắn, không khóa nên kéo sang một bên, cả 02 theo đường cửa sổ vào nhà, thấy trên kệ nhà bếp có nhiều chai rượu ngoại nên lấy tổng cộng 14 chai rượu (12 chai Chivas các loại, 02 chai Valentino) cho vào một thùng gỗ có sẳn trong nhà. BC1 điều khiển xe chở BC3 ôm thùng rượu về nhà BC3 cất giấu. Ngày hôm sau, BC1 để lại cho BC3 01 chai Valentino, lấy 13 chai rượu đem về nhà của Nguyễn Đinh Trà BC5 cho BC5 01 chai Valentino, không nói cho BC5 biết là tài sản do trộm cắp mà có. Còn lại 12 chai rượu hiệu Chivas, BC1 chở BC5 đi Thành phố Hồ Chí Minh để bán, BC1 điện BC1 cho Giang N2 hẹn gặp tại một khách sạn ở quận Bình Thạnh giao 12 chai rượu. Giang N2 nói với BC1 để tìm người bán lại mới có tiền trả. Sau đó, BC1 điện BC1 cho Giang N2 nhiều lần nhưng không liên lạc được nên chưa lấy được tiền bán rượu. 02 chai rượu hiệu Valentino các bị cáo đã sử dụng trong tiệc sinh nhật của BC5. Kết quả định giá tài sản 14 chai rượu trị giá 29.220.000 đồng. Hiện nay chị X yêu cầu bồi thường số tiền 29.220.000 đồng.

* Lần thứ 06: Xảy ra ngày 21/6/2018 tại tổ 11, ấp Tân Chủ, xã T1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do Lê Nguyễn Trung BC3 thực hiện.

Bị hại: Nguyễn Thị X3, sinh năm 1993, ngụ tổ 11, ấp Tân Chủ, xã T1, thành phố C, Đồng Tháp.

Khoảng 00 giờ, ngày 21/6/2018, BC3 điều khiển xe mô tô hiệu Exciter, biển số 66P1-736.18 (do Nguyễn Thị Ánh C3 mẹ ruột BC3 đứng tên) mang theo một ba lô đựng kiềm cộng lực và tuốc nơ vít đến xã T1, thành phố C, phát hiện tiệm thuốc tây của chị Nguyễn Thị X3 có cửa rào và cửa chính đang khóa ngoài bằng ổ khóa, BC3 dùng kiềm cộng lực cắt khoen cửa vào trong nhà tìm tài sản để trộm. BC3 vào phòng ngủ không có khóa lấy 01 máy tính xách tay màu đen hiệu Dell, 01 bao lì xì, một số tiền Việt BC2 trong hộc tủ gỗ và trong tủ có một số nữ trang màu trắng được để trong bọc nilon nên lấy bỏ vào túi quần lên xe chạy về nhà. BC3 kiểm tra tài sản trộm có 02 đôi bông tai màu trắng, một nhẫn màu trắng, một dây chuyền màu trắng và tiền Việt BC2 các loại khoảng 1.200.000 đồng. Toàn bộ số nữ trang BC3 đem đến một tiệm bạc ở chợ Trần Quốc Toản, phường 11, thành phố C bán nhưng tiệm không mua nên BC3 cho chị ruột là Lê Nguyễn Minh X1 01 đôi bông tai và 01 nhẫn màu trắng và nói với X1 là mình nhặt được, 01 đôi bông tai và sợi dây chuyền màu trắng thì BC3 giữ lại để sử dụng và đã làm mất, BC3 bán chiếc máy tính cho người thu mua ve chai với giá 60.000 đồng cùng với số tiền 1.200.000 đồng tiêu xài hết. Kết quả định giá tài sản: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell, core 7, 15 inch, màu xám trị giá 5.500.000 đồng, các loại nữ trang bạc không thu hồi được nên không có căn cứ định giá. Lê Nguyễn Minh X1 đã giao nộp 01 đôi bông tai và 01 nhẫn màu trắng, kết quả định giá 300.000 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định trị giá tài sản thiệt hại lần trộm này là 5.800.000 đồng. Đối với bị hại Nguyễn Thị X3 không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

* Lần thứ 07: Xảy ra ngày 29/7/2018 tại số 48A, Trần Thị X4, phường 4, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do Nguyễn Trung BC1 và Lê Nguyễn Trung BC3 thực hiện.

Bị hại: 1/ Trần Thị P1, sinh năm 1987, ngụ ấp Bình Chánh, xã Bình Thành, Huyện I, tỉnh Đồng Tháp.

2/ Trần Thị P2, sinh năm 1991, ngụ số 4, Tôn Đức Thắng, phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Khoảng 23 giờ ngày 28/7/2018, BC1 điện BC1 rủ BC3 đi trộm. BC3 điều khiển mô tô Exciter biển số 66P1-736.18 đến nhà trọ của BC1, BC1 chở BC3 đến tiệm bán quần áo Na Shop, số 48A, đường Trần Thị X4, tổ 13, khóm 2, phường 4, thành phố C do chị Trần Thị P1 làm chủ có cửa sắt đang khóa ngoài bằng 02 ổ khóa. BC1 dừng xe trước cửa tiệm, BC3 dùng kiềm cộng lực cắt 02 khoen cửa vào trong tìm tài sản trộm. BC1 lấy 01 máy tính xách tay màu hồng của chị P1 và 01 điện BC1 di động hiệu Iphone 6 Plus màu hồng của chị Trần Thị P2 (là em ruột của chị P1) đang sạc pin để trên quầy trong tiệm cho vào ba lô, tiếp tục lấy khoảng 40 cái quần Jean nữ, khoảng 10 cái áo nữ cho vào trong một túi nilon màu xanh có sẳn trong tiệm rồi mang ra xe, BC1 chở BC3 về nhà trọ của BC1 cất giấu. Sáng hôm sau, BC1 bán số quần áo trên cho BC4 để mở shop, không nói rõ là do trộm cắp mà có (lúc này BC4 chưa tham gia trộm cắp tài sản) được 6.000.000 đồng, số tiền này chia cho BC3 3.000.000 đồng, BC1 3.000.000 đồng. Còn chiếc điện BC1 và máy tính xách tay do bị khóa mật khẩu không sử dụng được, BC1 mở ra để lấy phụ kiện, phần vỏ hiện đã bỏ không biết ở đâu.

Kết quả định giá tổng giá trị tài sản thiệt hại là 19.500.000 đồng. Hiện nay chị P1 đã nhận lại được 25 cái quần Jean nữ, 02 cái áo khoác nữ, 06 cái áo thun nữ và 40 cái móc quần áo, số quần áo không thu hồi được yêu cầu bồi thường số tiền 9.500.000 đồng. Đối với Trần Thị P2 yêu cầu bồi thường giá trị chiếc điện BC1 Iphone 6S Plus là 5.000.000 đồng. Các bị cáo BC1, BC3 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

* Lần thứ 08: Xảy ra ngày 31/7/2018 tại tổ 7, ấp 1, xã C1, thành phố C do Nguyễn Trung BC1 và Lê BC3 Trung BC3 thực hiện.

Bị hại: Trần Thị Ngọc X5, sinh năm 1968, ngụ số 706A, tổ 7, ấp 1, xã C1, thành phố C, Đồng Tháp.

Khoảng 23 giờ ngày 30/7/2018, BC3 đến nhà trọ của BC1 sử dụng ma túy cùng nhau, BC1 rủ BC3 đi trộm. BC3 chở BC1 bằng xe Exciter biển số 66P1- 736.18 của BC3 trên quốc lộ 30, phát hiện tiệm thuốc tây Khang Thịnh do chị Trần Thị Ngọc X5 làm chủ có cửa rào và cửa chính bằng sắt đang khóa bên ngoài bằng ổ khóa. BC3 xuống xe cắt khóa cửa rào vào trong cắt khoen khóa cửa chính, mở cửa vào trong tiệm, mở hộc tủ của quầy thuốc lấy tiền và thẻ cào điện BC1 cất vào người, BC1 dùng đoản bẻ khóa chiếc xe mô tô Piaggio Vespa màu xanh dẫn ra ngoài sân, nhưng không khởi động được nên kêu BC3 chạy xe Exciter đẩy cho BC1 mang xe của chị X5 về nhà trọ của BC1 cất giấu. BC3 kiểm tra lại được số tiền 600.000 đồng nên đưa cho BC1 350.000 đồng, còn lại 250.000 đồng cất giữ và tiêu xài hết, thẻ cào điện BC1 BC3 dùng để nạp thẻ chơi game, chiếc xe mô tô Vespa BC1 gửi lên Thành phố Hồ Chí Minh dán keo lại để thay đổi màu sơn, cà số khung, số máy gắn biển số 59Y2 - 233.99 và sử dụng giấy đăng ký xe biển số 59Y2 - 233.99 do Cao Thị Như X6 đứng tên sở hữu, đem về sử dụng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ xe mô tô cùng giấy đăng ký xe biển số 59Y2 - 233.99, qua làm việc Cao Thị Như X6 trình bày chỉ bị mất giấy đăng ký xe đã làm lại giấy mới. Kết quả định giá xe mô tô Piaggio Vespa trị giá 43.000.000 đồng. Như vậy, tổng trị giá tài sản BC1 và BC3 trộm cắp của chị X5 là 43.600.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe mô tô cho chị X5 và không có yêu cầu bồi thường thêm.

* Lần thứ 09: Xảy ra ngày 06/8/2018 tại tổ 9, khóm 1, phường 1, thành phố C do Nguyễn Trung BC1 và Đặng Lê Phương BC2 thực hiện.

Bị hại: Nguyễn D1, sinh năm 1970, ngụ số 23, đường Hoàng Hoa Thám, phường 2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Vào khoảng 00 giờ ngày 06/8/2018, BC1 điều khiển xe mô tô Exciter 78L1-127.65 chở Đặng Lê Phương BC2 đi tìm tài sản trộm. BC1 phát hiện tiệm sửa xe Duy Tiến trên đường Nguyễn Thị Minh D2, tổ 9, khóm 1, phường 1, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do anh Nguyễn D1 làm chủ, đang khóa bên ngoài bằng 02 ổ khóa. BC1 dùng kiềm bấm mang theo bẻ khoen khóa cửa, cùng với BC2 vào bên trong lấy trộm 03 thùng nhớt xe mô tô, 07 bộ nhông-sên-dĩa, 03 bình ắc quy xe mô tô, 01 vành xe, 01 đèn pin đem về nhà trọ của BC1 cất giấu. Số tài sản trộm được BC1 lấy sử dụng một phần, còn lại 60 chai nhớt để tại nhà trọ cho đến khi bị Cơ quan điều tra khám xét và thu giữ. Kết quả định giá tổng số tài sản bị thiệt hại là 11.395.000 đồng. Hiện nay, anh D1 đã nhận lại 60 chai nhớt trị giá 5.500.000 đồng, số tài sản chưa thu hồi được yêu cầu BC1 và BC2 bồi thường số tiền 5.895.000 đồng. BC1 và BC2 đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

* Lần thứ 10: Xảy ra ngày 10/8/2018 tại tổ 9, ấp H1, xã L2, TP C do Nguyễn Trung BC1 và Đặng Lê Phương BC2 thực hiện.

Bị hại: Nguyễn Như P4, sinh năm 1988, ngụ tổ 9, ấp H1, xã L2, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Khoảng 02 giờ ngày 10/8/2018, BC1 điều khiển xe mô tô Exciter 78L1- 127.65 chở Đặng Lê Phương BC2 đi tìm tài sản để trộm, đến khu dân cư thuộc tổ 9, ấp H1, xã L2, thành phố C phát hiện căn nhà của chị Nguyễn Như P4 đang khóa cửa rào và cửa chính bên ngoài nên dừng xe. BC2 dùng tay nhấc bản lề cửa rào ra khỏi cột, đẩy vào trong tạo thành khoảng trống đi vào trong sân, BC1 dùng kiềm cộng lực mang theo cắt khoen cửa rồi ra xe ngồi cảnh giới. BC2 vào trong nhà tìm tài sản, thấy có 02 cái ti vi màn hình phẳng màu đen, một cái bắt vào vách tường ở phòng khách, một cái để ở trong phòng ngủ, BC2 lấy 02 cái ti vi mang ra xe, ngồi ôm phía sau cho BC1 chở chạy về nhà trọ của BC1 cất giấu, sau đó BC1 để ở nhà trọ của mình 01 cái ti vi hiệu Samsung, gửi ở nhà của BC4 01 ti vi hiệu Sony để tìm nơi tiêu thụ, nhưng chưa tiêu thụ được thì bị Cơ quan điều tra khám xét và thu giữ. Kết quả định giá tổng tài sản thiệt hại là 8.300.000 đồng. Bị hại Nguyễn Như P4 đã nhận lại tài sản và hiện không yêu cầu bồi thường.

* Lần thứ 11: Xảy ra ngày 14/8/2018 tại khóm 2, thị trấn A1, Huyện A2 do Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2 và Nguyễn Võ Khắc BC4 thực hiện.

Bị hại: Trần Thái H2, sinh năm 1975, ngụ khóm 2, thị trấn A1, Huyện A2, tỉnh Đồng Tháp.

Do trước đó BC1 có bảo Đặng Lê Phương BC2 thuê xe ô tô để đi trộm tài sản nên khoảng 23 giờ ngày 13/8/2018, BC2 thuê của anh Cường 01 xe ôtô hiệu Toyota loại Innova biển số 66A-044.56 rước BC1 và BC4 ở nhà trọ của BC1 đến chợ Bách hóa A2 thuộc khóm 2, thị trấn A1, Huyện A2, thấy tiệm điện Thái Bảo tại kios số 3 trong nhà lồng chợ, do anh Trần Thái H2 làm chủ, đang khóa cửa ngoài không có người trông giữ nên dừng xe lại. Lúc này khoảng 00 giờ ngày 14/8/2018, BC4 xuống xe dùng kiềm cộng lực mang theo cắt khóa, mở cửa vào bên trong lấy khoảng 06 cái âm li, 05 cuộn dây điện, 01 cuộn dây loa, khoảng 07-08 cái micro cùng một số điều khiển từ xa của ti vi, mang ra xe ôtô về nhà trọ của BC1 cất giấu. Qua ngày hôm sau, cả nhóm đem 02 cuộn dây điện bán cho một tiệm điện (không nhớ tên) gần chợ H3, phường 1, thành phố C được 800.000đ đưa cho BC2 trả tiền thuê xe. Số tài sản còn lại, BC1 và BC2 thuê xe ô tô mang lên Thành phố Hồ Chí Minh bán cho một tiệm điện tại chợ Nhật Tảo 01 cái âm li và 01 micro được 700.000 đồng, số âm li và micro còn lại bán cho tiệm sửa chữa điện tử Minh Loa tại xã H4 được 3.000.000 đồng, tổng cộng là 3.700.000 đồng, trả tiền thuê xe 1.100.000 đồng, chia BC2 500.000 đồng, BC4 1.000.000 đồng, còn lại 1.100.000 đồng, BC1 cất giữ tiêu xài.

Kết quả định giá tổng tài sản thiệt hại là 57.160.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi được 03 cái âm li do anh Lê Quang H5 giao nộp, thu giữ tại nhà trọ của BC1 50 cái điều khiển từ xa của tivi, 04 cuộn dây điện và 02 cuộn dây loa là tài sản bị mất trong vụ án, trao trả cho bị hại. Anh H2 đã nhận lại được số tài sản trị giá 9.500.000 đồng, yêu cầu bồi thường số tiền 47.660.000 đồng giá trị của tài sản các bị cáo đã bán không thu hồi được. Các bị cáo BC1, BC2 và BC4 thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

* Lần thứ 12: Xảy ra ngày 14/8/2018 tại khóm D2, thị trấn I, Huyện I, tỉnh Đồng Tháp do Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2 và Nguyễn Võ Khắc BC4 thực hiện.

Bị hại: Nguyễn Thành U, sinh năm 1995, ngụ khóm D2, thị trấn I, Huyện I, tỉnh Đồng Tháp.

Sau khi trộm tài sản tại tiệm điện Thái Bảo, BC2 lái xe chở BC1 và BC4 đi ngang sân vận động I, BC1 thấy bên trái có một tiệm bán phụ tùng xe mô tô Nguyễn Thành U thuộc khóm D2, thị trấn I, Huyện I, Đồng Tháp nên kêu BC2 quay xe lại dừng trước cửa tiệm. BC4 dùng kiềm cộng lực cắt khóa cửa, cùng với BC2 vào trong tiệm lấy khoảng 04 cặp phuộc kiểu của xe mô tô màu vàng, 04 cặp mâm vành xe mô tô, 01 bọc tem dán và 01 thùng giấy đựng ốc kiểu các loại mang ra xe ô tô, BC2 lái xe về nhà trọ của BC1 cất giấu toàn bộ số tài sản vừa trộm được. Số phụ tùng xe này BC1 và BC2 lấy sử dụng, số còn lại để tại nhà trọ của BC1 cho đến khi Cơ quan điều tra khám xét nhà trọ thu giữ. Tài sản thu hồi được định giá 16.980.000 đồng, số tài sản các bị cáo đã sử dụng làm thất thoát không thu hồi được nên không định giá. Hiện nay bị hại Nguyễn Thành U yêu cầu bồi thường số tiền 21.010.000 đồng, BC1, BC2 và BC4 thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Như vậy, tổng trị giá tài sản thiệt hại trong lần trộm này là: 37.990.000 đồng.

* Lần thứ 13: Xảy ra ngày 16/8/2018 tại số 326, khóm 1, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp do Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2, Nguyễn Võ Khắc BC4 thực hiện.

Bị hại: Nguyễn Thị Hồng D4, sinh năm 1996, ngụ khóm 1, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

BC1 bàn bạc trước với Đặng Lê Phương BC2, Nguyễn Võ Khắc BC4 thuê xe ôtô để đi trộm. Khoảng 23 giờ ngày 15/8/2018, BC2 thuê 01 xe ô tô, nhãn hiệu Toyota Innova màu bạc (không nhớ biển số) của anh D3 ở phường 2, thành phố C rồi chạy lên nhà trọ rước BC1 và BC4. Lúc này, tại nhà trọ có Nguyễn Đinh Tiến S3 (em ruột của Nguyễn Đinh Trà BC5) nên BC1 rủ S3 đi thành phố S, tỉnh Đồng Tháp chơi, S3 đồng ý cùng lên xe không biết là đi trộm. Khoảng 02 giờ ngày 16/8/2018, BC1, BC2 và BC4 phát hiện shop quần áo Hồng D4 số 326, khóm 1, phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp do chị Nguyễn Thị Hồng D4 làm chủ có cửa sắt đang khóa bên ngoài nên dừng xe trước tiệm. BC1 và BC4 xuống xe dùng kiềm cộng lực cắt ổ khóa, BC2 và S3 ngồi ngoài xe. Khi cắt khóa xong, BC1 ra xe ngồi, BC4 mở cửa tiệm, bật đèn sáng, lấy quần áo đang treo trong tiệm mang ra xe. S3 hỏi BC1 “Làm gì vậy?”, BC1 trả lời “sang shop” (mua lại shop) và bảo S3 phụ với BC4 chất đồ lên băng ghế sau, tổng cộng lấy khoảng 300 quần, áo nữ các loại, đem về nhà trọ của BC1 cất giấu. BC1 nói với BC5 số quần áo này mua của người khác để bán, BC5 bán livestream một số quần áo được số tiền 2.100.000 đồng và lấy một số quần áo để sử dụng, số còn lại BC4 mua lại với số tiền 11.000.000 đồng. BC1 lấy tiền trả tiền thuê xe 1.000.000đ, cho BC2 và BC4 mỗi người 2.500.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng BC1 tiêu xài hết.

Đối với Nguyễn Thị Hồng D4 khai bị mất 335 quần jean và áo nữ các loại, Cơ quan điều tra thu hồi được 151 quần jean, áo nữ và 110 cái móc. Kết quả định giá số tài sản thu hồi được là 13.245.000 đồng và đã trao trả lại cho bị hại. Số quần áo các bị cáo đã bán không thu hồi được nên không định giá. Chị D4 yêu cầu các bị cáo BC1, BC2 và BC4 bồi thường số tiền 24.370.000 đồng, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Như vậy, tổng trị giá tài sản thiệt hại trong lần trộm này là: 37.615.000 đồng.

Đối với bị cáo BC5 không biết BC1, BC2, BC4 trộm cắp tài sản của chị D4 nên không xử lý về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bị cáo BC5 có trách nhiệm nộp lại 2.100.000 đồng để bồi thường cho bị hại. Hiện nay, bà Đinh Thị Thanh Quyên (mẹ ruột bị cáo BC5) đã nộp 2.100.000 đồng thay bị cáo BC5 khắc phục hậu quả. Các bị cáo BC1, BC2 và BC4 còn phải bồi thường cho chị D4 số tiền 22.270.000 đồng. (Bút lục: 969-1042; 1549)

Hành vi phạm Tàng trữ trái phép chất ma túy do Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2 thực hiện:

Ngày 25/8/2018, trong quá trình khám xét phương tiện xe ôtô biển số 66A- 023.55, nơi ở và trong người của các bị cáo, Cơ quan điều tra phát hiện: Trong ví da của Nguyễn Trung BC1 cất giấu 01 bọc nilon bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; Trong ví da của Đặng Lê Phương BC2 cất giấu 01 bọc nilon bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; Tại nơi ở của Nguyễn Võ Khắc BC4 phát hiện phía sau nhà bếp sát vách với nhà trọ của BC1 thu giữ 01 điện BC1 Nokia màu đen, mặt sau của điện BC1 có 01 bọc nilon bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng được dán dính vào điện BC1 bằng keo dính, nên đã tiến hành lập biên bản thu giữ và niêm phong các vật chứng trên để điều tra làm rõ.

Căn cứ Kết luận giám định số 773/KL-KTHS, ngày 22/10/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh kết luận:

- Tinh thể rắn chứa trong 01 bọc nilon hàn kín, được niêm phong trong phong bì, có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Trung BC1 (ký hiệu M1) nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,273 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ).

- Tinh thể rắn chứa trong 01 bọc nilon hàn kín, được niêm phong trong phong bì, có chữ ký ghi họ tên Đặng Lê Phương BC2 (ký hiệu M2) nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,689 gam, loại Methamphetamine.

- Tinh thể rắn chứa trong 01 bọc nilon hàn kín, được niêm phong trong phong bì, có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Hữu Lễ (ký hiệu M3) nêu trên gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng 0,131 gam, loại Methamphetamine.

Các bị cáo BC1, BC2, BC4 khai nhận: Do trước đó BC1 đã đi mua ma túy về sử dụng nhiều lần nên khoảng 14 giờ, ngày 23/8/2018 BC1 từ nhà ở xã C1 đi xe buýt xuống thành phố C, tiếp tục đi xe buýt đến Ngã 3 An Hữu thuộc Huyện D5, tỉnh Tiền Giang rồi đi xe ôm đến một địa điểm không nhớ gặp một người phụ nữ tên Thanh (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua 1.000.000 đồng tiền ma túy và để trong bọc nilon giấu trong người rồi đi xe buýt về nhà. Khi về đến nhà trọ, BC1 mang ra sử dụng và cho BC2 một phần, còn lại BC1 tiếp tục cất giữ. Đến sáng ngày 25/8/2018, sau khi đã thực hiện vụ trộm tiệm bạc Việt Hà ở thị trấn A1, Huyện A2 thì BC1 cất giữ điện BC1 của BC4 (BC4 đưa điện BC1 cho BC1 để rọi đèn tìm tài sản trộm), BC4 nhắn tin cho BC1 xin ma túy để sử dụng, lúc này BC1 chuẩn bị đi Thành phố Hồ Chí Minh tiêu thụ tài sản, nên lấy ma túy ra chia cho BC4 01 phần để trong bọc nilon, dùng keo dán vào điện BC1 rồi ra phía sau bếp của nhà trọ nhét qua nhà cho BC4 nhưng chưa nói cho BC4 biết địa điểm cất giấu ma túy (chỗ ở của BC4 và nhà trọ của BC1 liền vách với nhau). BC4 chưa lấy ma túy mà đi Kiên Giang để mua quần áo về bán lại, đến chiều cùng ngày mẹ của BC4 điện BC1 cho biết BC1 đã bị bắt, qua ngày hôm sau thì BC4 về và đến Công an đầu thú. Xét thấy gói ma túy này là của BC1 cho BC4 để sử dụng nhưng không đưa trực tiếp mà để ở nhà BC4, BC4 chưa lấy thì bị phát hiện và thu giữ, nên ma túy này thì vẫn là của BC1. Do vậy, Cơ quan điều tra không khởi tố BC4 về tội tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

* Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2, Nguyễn Võ Khắc BC4, Lê Nguyễn Trung BC3 và Nguyễn Đinh Trà BC5 đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Đối với Nguyễn Đinh Tiến S3: Ngày 16/8/2018, S3 đi cùng BC1, BC2, BC4 trộm cắp tài sản tại shop Hồng D4 thuộc khóm 1, phường 1, thành phố S. Do S3 được rủ đi chơi và BC1 nói là “sang shop” quần áo, S3 không biết các bị cáo BC1, BC2, BC4 đang trộm cắp tài sản của người khác nên Cơ quan điều tra không khởi tố S3 với vai trò đồng phạm trong vụ án.

Ngoài các tang vật thu giữ đã trao trả cho các bị hại trong 14 lần trộm cắp tài sản nêu trên, Cơ quan điều tra còn thu giữ:

+ 02 ổ khóa loại khóa vòng; 01 chiếc khăn vải hình vuông màu trắng;02 thanh nhôm màu trắng có dấu cắt 01 cân điện tử hiệu pocket scanle để cân vàng:

04 cái khay nhựa màu trắng trưng bày nữ trang (trong vụ trộm tiệm bạc Việt Hà):

+ 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Nguyễn Ngọc H; 01 giấy đăng ký xe mô tô đứng tên Nguyễn Ngọc H (vụ trộm Mỹ Tây 2, K3, M).

+ 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 67L1-069.12 do Trương Thị N đứng tên (vụ trộm ở ấp L1, xã L2, thành phố C).

+ Lê Nguyễn Minh X1, chị ruột của bị cáo BC3, giao nộp: 01 đôi bông tai bằng kim loại màu trắng, có hột màu trắng; 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu trắng, có hột màu trắng (trong vụ trộm tại ấp Tân Chủ, xã T1, thành phố C)

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung BC1:

+ Công cụ, phương tiện phạm tội, gồm: 01 kéo cắt tol cán màu đen; 01 đầu đoản tự chế để phá khóa; 01 kiềm cộng lực màu vàng, hiệu HY 16 (cán vàng - lưỡi màu đen); 01 dụng cụ tự chế để sử dụng ma túy đá; 01 bật lửa khè; 01 ba lô hiệu ZTE; 01 ba lô hiệu Jack Wolfskin; 01 giấy đăng ký xe mô tô 59Y2-233.99 tên chủ xe Cao Thị Như X6; 01 điện BC1 di động hiệu Samsung J2, màu đồng:

01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 78L1-127.65. Kết quả giám định số khung, số máy xe bị tẩy xóa đóng lại dãy số, ký tự mới (số khung: RLCUG0610HY420182, số máy G3D4E440096) và không đọc lại được dãy số, ký tự bị tẩy xóa. Qua làm việc chủ sở hữu xe mô tô 78L1-127.65 là Nguyễn Thanh Tiến, sinh năm 1993, ngụ thôn BC3 An, xã Sơn BC3, Huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên không bị mất trộm xe và giấy đăng ký.

+ Đồ vật cá nhân của bị cáo Nguyễn Trung BC1: 01 máy in nhãn hiệu HP, màu trắng; 05 màn hình máy tính màu đen (01 hiệu Asus, 02 hiệu Samsung, 02 hiệu HP); 01 loa vi tính hiệu Sound max A - 920; 01 âm li màu đen hiệu PROTAPER; 01 ổn áp hiệu M và R, màu trắng; 01 ổn áp hiệu Robot màu trắng, xám; 01 (một) âm li hiệu Nanomax SA-999 x P; 01 CPU máy tính hiệu Casesd:

01 loa thùng hiệu Birici; 03 cái khoan điện cầm tay; 05 cái máy mài bằng điện, 01 bộ sửa khóa + máy cắt chìa khóa; 01 bộ cấp nguồn điện BC1; 01 máy khò; 16 cái main máy tính và 01 ổ cứng di động (tất cả đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng). (Kết quả định giá tổng số tài sản cá nhân của BC1 trị giá là 13.150.000 đồng) - Thu giữ đồ vật cá nhân của bị cáo Nguyễn Đinh Trà BC5: Nữ trang bằng kim loại màu vàng gồm: 01 dây bi mặt liền; 01 vòng hột; 01 mặt hột; 01 nhẫn hột; 01 đôi bông tai hột; 01 đôi bông tai trái châu; 01 nhẫn trắng hột đá; 01 điện BC1 di động hiệu Samsung Note 2, màu trắng, 01 điện BC1 di động hiệu Iphone, màu trắng ngà, 01 điện BC1 di động hiệu Iphone, màu vàng, 01 điện BC1 di động hiệu Nokia màu đen, 01 cục sạc dự phòng hiệu power bark, 01 cục sạc dự phòng hiệu Honda AirBlad (đã qua sử dụng); 25 tờ tiền Việt BC2 mệnh giá 500.000 đồng; 01 dây tay nghe màu trắng; 02 đầu cục sạc điện BC1 (không có dây); 02 bật lửa; 02 kính mát màu đen; 02 cây kéo y tế; 01 laptop nhãn hiệu Dell, màu đen; 01 máy tính bảng màu đen, nhãn hiệu Samsung; 01 màn hình tivi màu đen, nhãn hiệu Samsung, màu đen, số hiệu Model: UA32H4100AK, Type No UA32H4100; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias, biển số 59P2-172.83; số máy 1SK-027118, số khung RLC44SK10FY027103; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 59P2- 172.83 do Mai Thị Hiền D6 đứng tên. Kết quả giám định số khung, số máy xe đã bị tẩy xóa không đóng lại số mới và không đọc lại được dãy số, ký tự bị tẩy xóa; Kết quả xác minh Mai Thị Hiền D6 sinh năm 1970 ngụ số 49/18 Nghĩa Phát, phường 6, quận B1, TP Hồ Chí Minh không có mặt tại địa phường từ tháng 6/2016 nên không làm việc được.

- Thu giữ của bị cáo Đặng Lê Phương BC2: 01 điện BC1 di động hiệu Iphone 5, màu trắng xám; 01 cái ví da bên trong có: 01 giấy CMND; 01 giấy phép lái xe hạng A1; 01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 thẻ ATM đều mang tên Đặng Lê Phương BC2; 05 (năm) tờ tiền Việt BC2 mệnh giá 500.000 đồng; 01 cái túi da màu đen bên trong có dụng cụ sửa chữa điện gồm: 01 kiềm; 01 vít bake; 01 nhíp kẹp; 01 kiềm cắt; 01 vít dẹp; 01 vít nhỏ mở ốc điện BC1; 01 laptop nhãn hiệu Epson màu đen; 01 máy in màu trắng, nhãn hiệu HP Laser Jet P1102.

- Thu giữ của bị cáo Nguyễn Võ Khắc BC4: 01 điện BC1 di động hiệu Nokia màu đen; 01 bộ máy tính để bàn, màu đen hiệu Jetex, màn hình hiệu Asus.

- Thu giữ của bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3: 01 điện BC1 di động hiệu Iphone 6, màu trắng - đen; 01 giấy CMND tên Lê Nguyễn Trung BC3; 01 đăng ký xe mô tô biển số 66P1-736.18 do Nguyễn Thị Anh Cúc đứng tên sở hữu.

- Trong qúa trình điều tra, ông Đặng Thế B (cha ruột bị cáo BC2) giao nộp số tiền 49.000.000 đồng để khắc phục hậu quả thay cho BC2.

- Trong quá trình truy tố, gia đình các bị cáo nộp tiền khắc phục hậu quả thay cho các bị cáo, gồm: bà Võ Thị Kim Minh (mẹ ruột BC4) nộp số tiền 25.000.000 đồng; ông Lê Văn T3 (cha ruột BC3) đã nộp số tiền 20.000.000 đồng, bà Đinh Thị Thanh Quyên (mẹ ruột BC5) đã nộp số tiền 2.100.000 đồng.

Tại cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 09-5-2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp và tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ quyết định truy tố đối với các bị cáo:

- Bị cáo Nguyễn Trung BC1 và bị cáo Đặng Lê Phương BC2 về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 và điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:

- Bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 về tội “Trộm cắp tài sản” Theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm b, s khoản 1, 2, Điều 51; điểm b, h, khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung BC1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung BC1 14 (mười bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm tù về “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2018 (ngày tạm giữ):

2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm b, s, r, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 54; Điều 55 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Lê Phương BC2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đặng Lê Phương BC2 10 (mười) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/8/2018 (ngày tạm giữ):

4. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s, r, khoản 1, 2, Điều 51; điểm b, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2018 (ngày bắt khẩn cấp):

6. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:

- Buộc các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2 và Lê Nguyễn Trung BC3 liên đới trách nhiệm bồi thường cho Dương Thị Ái N1 trị giá chiếc xe SH Mode là 45.000.000 đồng.

- Buộc bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 bồi thường cho Trương Thị N số tiền 3.600.000 đồng.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Lê Nguyễn Trung BC3 liên đới trách nhiệm bồi thường cho Mai Ngọc Gia K số nữ trang trị giá 83.115.000 đồng; Nguyễn Thị Tuyết X trị giá 14 chai rượu ngoại là 29.220.000 đồng; Trần Thị P1 trị giá số quần áo bị mất là 9.500.000 đồng; Trần Thị P2 trị giá chiếc điện BC1 Iphone là 5.000.000 đồng.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Trung BC1 và Đặng Lê Phương BC2 liên đới trách nhiệm bồi thường cho Nguyễn D1 trị giá số nhớt và phụ tùng xe 5.895.000 đồng.

- Buộc các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2 và Nguyễn Võ Khắc BC4 liên đới trách nhiệm bồi thường cho Trần Thái H2 số đồ điện bị mất trị giá 47.660.000 đồng; Nguyễn Thành U số phuộc, mâm, vành xe môtô bị mất trị giá 21.010.000 đồng; Nguyễn Thị Hồng D4 số quần áo bị mất trị giá 22.270.000 đồng.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường của từng bị cáo như sau:

1/ Nguyễn Trung BC1 phải bồi thường tổng cộng: 111.677.000 đồng.

2/ Đặng Lê Phương BC2 phải bồi thường tổng cộng: 48.259.500 đồng.

3/ Nguyễn Võ Khắc BC4 phải bồi thường tổng cộng: 30.312.000 đồng.

4/ Lê Nguyễn Trung BC3 phải bồi thường tổng cộng: 82.017.500 đồng.

7. Về số tiền hưởng lợi bất chính: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự buộc các bị cáo: Nguyễn Trung BC1 phải nộp lại 8.850.000 đồng, Lê Nguyễn Trung BC3 phải nộp 6.510.000 đồng tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Võ Khắc BC4, Nguyễn Đinh Trà BC5 về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/9/2019 bị cáo Đặng Lê Phương BC2 có đơn kháng cáo; cùng ngày 25/9/2019, bị cáo Nguyễn Trung BC1, bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 đều có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Trung BC1 và bị cáo Đặng Lê Phương BC2 xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo.

Người bào chữa cho bị cáo BC1 và bị cáo BC2 là luật sư Nguyễn Bá T2 phát biểu ý kiến: Do các bị cáo BC1, BC2 đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với 02 (hai) bị cáo này.

Bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do sau khi xét xử sơ thẩm đã tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường trách nhiệm dân sự thêm số tiền 62.017.500 đồng như án sơ thẩm đã tuyên, nên xin Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo sớm trở về chăm sóc cho cha mẹ và bà nội đã già.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Các bị cáo Nguyễn Trung BC1 và Đặng Lê Phương BC2 tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo nên căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của 02 (hai) bị cáo BC1 và BC2.

Bị cáo BC3 thừa nhận hành vi phạm tội của mình chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do đã khắc phục hậu quả. Sau khi xét xử sơ thẩm nếu bị cáo BC3 đã khắc phục bồi thường trách nhiệm dân sự như bản án sơ thẩm đã tuyên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo BC3 theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Trung BC1 và Đặng Lê Phương BC2 rút toàn bộ kháng cáo. Xét, việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc rút kháng cáo và đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo BC1, BC2 như đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo BC1, BC2, cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có có căn cứ chấp nhận.

[2] Bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 thừa nhận đã thực hiện hành vi như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bản kết luận giám định, định giá tài sản và các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án xác định được hành vi phạm tội của bị cáo như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 25/3/2018 đến ngày 31/7/2018, bị cáo BC3 cùng với các bị cáo khác trong vụ án thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp. Trong vụ án này, bị cáo BC3 có vai trò trực tiếp thực hiện, BC3 cùng với BC1 thực hiện 06 lần trộm tài sản gây thiệt hại tài sản 335.685.000 đồng. Ngoài ra, BC3 còn một mình 02 lần trộm cắp tài sản gây thiệt hại tài sản 9.400.000 đồng. Tổng cộng, BC3 đã thực hiện 08 lần trộm cắp tài sản, gây thiệt hại tài sản tổng trị giá tài sản là 345.085.000 đồng, được hưởng lợi 33.910.000 đồng.

[3] Như vậy, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét, kháng cáo của bị cáo BC3 xin giảm nhẹ hình phạt với lý do đã tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại như bản án sơ thẩm đã quyết định.

[4.1] Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất an cho người dân trong việc quản lý tài sản, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo BC3 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội mà mình đã gây ra.

[4.2] Khi lượng hình Tòa án cấp sơ thẩm xem xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 như: Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục một phần hậu quả, tự thú và tại phiên tòa sơ thẩm bị hại là chị Dương Thị Ái N1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm b, s, r, khoản 1, 2, Điều 51 Bộ luật hình sự. Như vậy, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo BC3 theo quy định của pháp luật hình sự.

[4.3] Ngoài ra, bản án của Tòa án sơ thẩm quyết định trách nhiệm dân sự đối với bị cáo BC3 bồi thường cho bị hại tổng cộng là 82.017.500 đồng. Tại Tòa án cấp sơ thẩm bị cáo BC3 đã khắc phục được 20.000.000 đồng, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo BC3 đã nộp bổ sung thêm số tiền là 62.017.500 đồng [(biên lai thu số 06942 ngày 09/10/2019, có cha là Lê Văn T3 nộp thay) (BL 1891)]. Như vậy, bị cáo BC3 đã tự nguyện giao nộp đủ số tiền bồi thường trách nhiện dân sự theo bản án sơ thẩm đã tuyên xử nên Hội đồng xét xử phúc thẩm, xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo BC3 theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo BC3, sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ chấp nhận.

[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo BC1, BC2 và BC3 không phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào, điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 26/2019/HS-ST ngày 17-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đối với phần hình phạt của bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3.

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s, r, khoản 1, 2, Điều 51; điểm b, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/8/2018 (ngày bắt khẩn cấp):

Căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2.

Phần tội danh và hình phạt của bị cáo Nguyễn Trung BC1, bị cáo Đặng Lê Phương BC2 theo Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2019/HS-ST ngày 17-9-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp có hiệu lực pháp luật.

Tiếp tục giam các bị cáo BC1, BC2 và BC3 để đảm bảo thi hành án.

Số tiền của bị cáo Lê Nguyễn Trung BC3 (có cha là Lê Văn T3 nộp thay) đã nộp là 62.017.500 (sáu mươi hai triệu không trăm mười bảy nghìn năm trăm) đồng theo biên lai thu số 06942 ngày 09/10/2019 của Cục thi hành dân sự tỉnh Đồng Tháp sẽ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Trung BC1, Đặng Lê Phương BC2 và Lê Nguyễn Trung BC3, không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2020/HS-PT ngày 25/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:75/2020/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về