Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 22/05/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 75/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1134/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/3/2020 và Thông báo mở phiên tòa ngày 28/4/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm 1990; (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1992; (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 5, xã Đ, Hện H, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 23/12/2019, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà và ông Nguyễn Tấn Đ tự tìm hiểu nhau và có tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, Hện P, tỉnh Bến Tre vào ngày 13/02/2012 theo quy định của pháp luật. Bà và ông Đ sống với nhau được 08 năm. Thời gian đầu, vợ chồng sống chung với nhau hòa thuận, vui vẻ. Nhưng đến năm 2017 thì ông Đ lại đi sớm về muộn, có khi lại không về nhà. Ông Đ không còn biết làm ăn chỉ mãi mê đi chơi, không chăm sóc vợ, con. Tôi đã nhiều lần khuyên ngăn, nhưng ông Đ không để tâm và vẫn không thay đổi. Từ đó, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không còn khả năng hàn gắn.

Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ.

Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông Đ có 02 con chung tên là Nguyễn Tấn Gia H, sinh ngày 08/4/2012 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 12/12/2013. Hiện tại, 02 con chung đang do bà trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà xác định bà và ông Đ không có nợ ai.

Bị đơn là ông Nguyễn Tấn Đ được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông Đ, nhưng ông Đ vẫn vắng mặt không có văn bản ý kiến trình bày đối với các yêu cầu khởi kiện của bà L.

Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt. Nguyên đơn có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ. Ông Đ hiện đang cư trú tại Đức Hòa Đông, Hện Đức Hòa, tỉnh Long An. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân Hện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

[3] Bị đơn là ông Nguyễn Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Nguyễn Thị L:

[4.1] Về hôn nhân: Xét thấy, bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Tấn Đ tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 08/2012 đăng ký ngày 13/02/2012 do Ủy ban nhân dân xã An Nhơn, Hện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre cấp, nên xác định hôn nhân giữa bà L và ông Đ là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà L và ông Đ đã phát sinh mâu thuẫn với những nguyên nhân do bà L trình bày. Ông Đ đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông Đ tại Tòa án, nhưng ông Đ vẫn không có ý kiến, luôn vắng mặt, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ mẫu thuẫn tình cảm giữa bà L và ông Đ là có thật, quan hệ hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, việc bà L cương quyết ly hôn với ông Đ là có cơ sở, nghĩ nên chấp nhận xử cho bà L được ly hôn với ông Đ là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4.2] Về nuôi con chung: Theo quy định tại các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “...Vợ, chồng được quyền thỏa thuận người trực tiếp nuôi con...; Nếu con từ 07 (bảy) tuổi trở lên thì xem xét nguyện vọng của con...”. Tại thời điểm xét xử, con chung tên là Nguyễn Tấn Gia H, sinh ngày 08/4/2012 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 12/12/2013 đã đủ 07 tuổi và có ý kiến nguyện vọng được ở với bà L. Ông Đ luôn vắng mặt, nên các bên không thể thỏa thuận việc nuôi con chung. Xét thấy, hiện tại con chung đang do bà L trực tiếp nuôi dưỡng và đang có cuộc sống ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, trên cơ sở yêu cầu của bà L và ý kiến của con chung, vì lợi ích của con chung, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, trong học tập, nên cần giao 02 con chung cho bà L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

[4.3] Về chia tài sản và nợ chung: Do ông Đ cố tình vắng mặt, không có ý kiến trình bày. Bà L không yêu cầu giải quyết về phần tài sản và xác định giữa bà L và ông Đ không có nợ ai, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn” đối với ông Nguyễn Tấn Đ.

1. Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Tấn Đ

2. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên là Nguyễn Tấn Gia H, sinh ngày 08/4/2012 và Nguyễn Ngọc Gia H1, sinh ngày 12/12/2013. Ông Nguyễn Tấn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004369 ngày 23/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

211
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 22/05/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn

Số hiệu:75/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về