Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 10/07/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 75/2020/HNGĐ-ST NGÀY 10/07/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số: 143/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2020, về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 23/6/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Võ Thị Kim Th, sinh năm 1981.Địa chỉ: ấp Phú Thạnh 4, xã Đồng Ph, huyện Long H, tỉnh Vĩnh L ( có mặt)

2. Bị đơn: anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp Phú Thạnh 4, xã Đồng Ph, huyện Long H, tỉnh Vĩnh L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 21 tháng 4 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Kim Th trình bày:

Chị và anh Nguyễn Quốc T quen biết, tìm hiểu nhau thời gian khoảng một năm và tự nguyện tiến tới hôn nhân, tổ chức lễ cưới vào năm 2010, đăng ký kết hôn ngày 07/12/2001 tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Ph, huyện Long H, tỉnh Vĩnh L.

Sau khi cưới sống vợ chồng chung với cha mẹ chồng, sống hạnh phúc được khoảng một năm thì xảy ra mâu thuẫn cự cãi, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau. Sau khi chị sinh con thì giữa chị và mẹ chồng xảy ra mâu thuẫn, mẹ chồng không thương chị nên sống chung nhà không hòa hợp được, anh Tuấn không có chính kiến của mình để xây dựng hạnh phúc gia đình, bảo vệ được vợ con, chung sống không hạnh phúc nên chị để con lại cho anh T nuôi dưỡng và đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh mới đầu khoảng một tháng chị về thăm con một lần, nhưng từ đầu năm 2019 đến nay chị không về nữa, vì anh T không quan tâm đến chị, giữa chị và mẹ chồng xảy ra mâu thuẫn gay gắt, nhưng anh T cũng không có tiếng nói để bênh vực lẽ phải cho chị. Chị ra đi đến nay hơn hai năm nhưng anh T cũng không bàn bạc với chị để hàn gắn tình cảm vợ chồng, dẫn đến mỗi người sống mỗi nơi không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh T, không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Con chung có một người tên Nguyễn Thái H, sinh ngày 09/8/2001 đã trưởng thành có khả năng lao động, không yêu cầu giải quyết. Tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Nguyễn Quốc T trực tiếp nhận thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án hai lần, nhưng đều vắng mặt, không tham gia hòa giải, không làm văn bản trình bày ý kiến yêu cầu của mình nộp cho Tòa án.

Tại phiên tòa: nguyên đơn không cung cấp chứng cứ gì mới vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn.

Bị đơn anh Nguyễn Quốc T đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa, giấy triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự được thẩm tra tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Chị Võ Thị Kim Th khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Quốc T, cư trú ấp Phú Thạnh 4, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn anh Nguyễn Quốc T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Kim Th, xét thấy:

Chị Võ Thị Kim Th và anh Nguyễn Quốc T xây dựng hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 07/12/2001, hôn nhân của anh chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới vợ chồng chung sống với gia đình anh T, sống hạnh phúc và sinh được một người con. Đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh T không quan tâm đến vợ con, giữa chị Th và mẹ chồng xảy ra mâu thuẫn nhưng anh T không đứng ra dàn xếp ổn thỏa nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi làm mất hạnh phúc gia đình. Đầu năm 2018 chị Th giao con lại cho anh T nuôi dưỡng và đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh thỉnh thoảng mới về nhà một lần. Từ tháng 01 năm 2019 đến nay chị Th không về nhà nữa.

Tòa án mời nhiều lần, nhưng anh T không tham gia giải quyết vụ án, không làm văn bản nêu ý kiến yêu cầu của mình nộp cho Tòa án cũng như không gặp chị Thoa bàn bạc để vợ chồng đoàn tụ mà dẫn đến mỗi người sống mỗi nơi, không quan tâm chăm sóc đến nhau. Tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng: vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau. Anh chị không còn chung sống với nhau từ tháng 01/2019 đến nay đã làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt. Tại Tòa chị Th trình bày thời gian trước đây chung sống với anh T không có hạnh phúc và khẳng định không còn tình cảm với anh Tuấn nên không thể hàn gắn trở lại, con cái lớn rồi không vướng bận gì nữa nên xin được ly hôn. Xét thấy giữa chị Th và anh T không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Cho chị Th được ly hôn anh T.

[4] Về con chung: có một người con tên Nguyễn Thái H, sinh ngày 09/8/2001 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Tài sản chung và nợ chung: chị Th không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí: căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị Võ Thị Kim Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Kim Th. Cho chị Th được ly hôn anh Nguyễn Quốc T.

2. Về con chung: Nguyễn Thái H, sinh ngày 09/8/2001 đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.

Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

3. Về án phí: chị Võ Thị Kim Th phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0005679 ngày 21/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chị Th đã nộp xong án phí.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4.Quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

208
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2020/HNGĐ-ST ngày 10/07/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:75/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 10/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về