Bản án 21/2017/HNGĐ-ST về tranh chấp ly hôn

BẢN ÁN 21/2017/HNGĐ-ST NGÀY 11/08/2017 VỀ TRAH CHẤP LY HÔN

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

Ngày 11 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2017/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 05 năm 2017 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2017/QĐXXST-HNGĐ  ngày 07 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Thị Minh C - sinh năm 1983 (có mặt)

- Bị đơn: Ông Phạm Ngọc T - sinh năm 1978 (vắng mặt)

Cùng trú tại: Tổ 98, phường H, quận L, TP Đà Nẵng

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Lê Thị Minh C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Phạm Ngọc T kết hôn năm 2006, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, TP Đà Nẵng, hôn nhân giữa chúng tôi là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn thì chúng tôi chung sống tại tổ 98, phường H, quận L, TP Đà Nẵng.

Trong  quá  trình  chung  sống  vợ  chồng  thường  xuyên  xảy  ra  mâu  thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do trong hơn 10 năm chung sống thì ông Phạm Ngọc T không có trách nhiệm với gia đình, mặc dù bản thân ông T có đầy đủ sức khỏe nhưng không lo làm ăn, chăm lo cho con cái mà bỏ mặc tôi một mình phải lo lắng. Suốt nhiều năm qua một mình tôi đứng ra gánh vác kinh tế cho cả gia đình. Ngoài ra ông Phạm Ngọc T còn ăn chơi, trong nhà có gì cũng cầm bán, từ chiếc xe là phương tiện đi lại của tôi đến chiếc điện thoại tôi dùng để liên lạc, nhà cửa rồi bỏ đi hai năm mới quay về. Vì con cái còn nhỏ, sợ bị ảnh hưởng đến tâm sinh lý cũng như học hành nên tôi đã cố gắng tha thứ cho ông T thêm cơ hội để con cái được đầy đủ cha mẹ. Tuy nhiên, từ khi tôi sinh cháu nhỏ năm 2015 đến nay ông Phạm Ngọc T vẫn chứng nào tật đó, không thay đổi, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay hai con ngày một trưởng thành, tôi không thể để con chứng kiến việc cha mẹ thường xuyên mâu thuẫn cũng như cần phải tiết kiệm kinh tế để lo cho các con sau này. Xét thấy mâu thuẫn đã quá trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung, tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể duy trì nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng tôi có 02 con chung là Phạm Ngọc Nhã Y - sinh ngày 06.3.2007 và Phạm Minh P - sinh ngày 07.4.2015.

Do ông Phạm Ngọc T sống không có trách nhiệm với gia đình, không có công ăn việc làm; hiện nay thu nhập của tôi trung bình là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng)/01 tháng, hoàn toàn đủ sức lo cho các cháu; cháu lớn là con gái, có nguyện vọng ở với tôi nên nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì nguyện vọng của tôi là được nuôi 02 cháu, không yêu cầu ông Phạm Ngọc T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn là ông Phạm Ngọc T không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 16.6.2017, không tham gia phiên hòa giải vào ngày 06.7.2017 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận L, TP Đà Nẵng thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn Lê Thị Minh C kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn Phạm Ngọc T không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên đối chất, hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Về nội dung vụ án: xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẩn của bà Lê Thị Minh C và ông Phạm Ngọc T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được mâu thuẩn vợ chồng đã được chính quyền địa phương xác nhận nên căn cứ vào Điều 56 Luật HNGĐ đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh C, về con chung có 02 con chung là Phạm Ngọc Nhã Y - sinh ngày 06.3.2007 và Phạm Minh P - sinh ngày 07.4.2015. Xét đơn trình bày của con chung Phạm Ngọc Nhã Y có nguyện vọng xin ở với mẹ và con chung Phạm Minh P hiện dưới 36 tháng tuổi nên đề nghị HĐXX giao hai con chung cho bà Lê Thị Minh C nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81,Điều 82 Luật HN&GĐ. Về tài sản chung: không yêu cầu, Nợ chung: không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Lê Thị Minh C và ông Phạm Ngọc T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận L, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, không có đương sự nào xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 24.7.2017 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông Phạm Ngọc T, nhưng ông Phạm Ngọc T vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Phạm Ngọc T.

2. Về  nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh C đối với ông Phạm Ngọc T thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Minh C và ông Phạm Ngọc T có thời gian tìm hiểu và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận L, TP Đà Nẵng vào năm 2006. Theo bà Lê Thị Minh C trình bày thì trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do ông Phạm Ngọc T sống không có trách nhiệm, không chăm lo cho con cái, phát tán tài sản của gia đình. Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn là ông Phạm Ngọc T mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh C. Theo Biên bản xác minh của tòa án thì chính quyền địa phương xác nhận cuộc sống vợ chồng giữa bà C, ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông T không có trách nhiệm với gia là có thật. Qua đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà Cu và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà Lê Thị Minh C yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Minh C khai nhận có 02 con chung là Phạm Ngọc Nhã Y - sinh ngày 06.3.2007 và Phạm Minh P - sinh ngày 07.4.2015. Bà Lê Thị Minh C đề nghị được nuôi 02 con chung và không yêu cầu ông Phạm Ngọc T cấp dưỡng nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Ngọc T không có ý kiến gì đối với vấn đề con chung. 

HĐXX xét thấy, theo tài liệu, chứng cứ do bà Lê Thị Minh C cung cấp thì mức lương hiện nay của bà Lê Thị Minh C là 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng)/01 tháng. Xét thấy, cháu Phạm Minh P dưới 36 tháng tuổi nên theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì giao cháu cho bà Lê Thị Minh C nuôi dưỡng là phù hợp.

Đối với cháu Phạm Ngọc Nhã Y là con gái, rất cần sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ trong quá trình phát triển tâm sinh lý khi trưởng thành. Hơn nữa cháu Nhã Y có đơn trình bày thể hiện có nguyện vọng ở với mẹ, theo lời trình bày của bà C thì ông Thiện nay không có công việc ổn định, ông T hoàn toàn không đóng góp kinh tế cho gia đình, không có trách nhiệm với con cái và đây cũng là một trong các lý do dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng khiến bà Lê Thị Minh C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, xét thấy việc bà Lê Thị Minh C đề nghị được nuôi cháu Phạm Ngọc Nhã Yến là đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Yến nên HĐXX chấp nhận.

Bà Lê Thị Minh C không yêu cầu ông Phạm Ngọc T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

- Về Tài sản chung: Bà Lê Thị Minh C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thị Minh C cũng không có ý kiến gì đối với tài sản chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Lê Thị Minh C khai nhận không có. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phạm Ngọc T cũng không có ý kiến gì đối với nợ chung nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Nếu sau này bà Lê Thị Minh C và ông Phạm Ngọc T có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì: bà Lê Thị Minh C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Các Điều 51, 53, 54, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Minh C đối với ông Phạm Ngọc T.

Tuyên xử:  Bà Lê Thị Minh C -  sinh năm 1983 được ly hôn với ông Phạm Ngọc T - sinh năm 1978.

Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2006 quyền số 01 ngày 01.9.2006 của UBND phường H, quận L, TP Đà Nẵng không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung:

Xử: Giao hai con chung Phạm Ngọc Nhã Y - sinh ngày 06.3.2007 và Phạm Minh Pt - sinh ngày 07.4.2015  cho bà Lê Thị Minh C trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc. Bà Lê Thị Minh C không yêu cầu ông Phạm Ngọc T cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà Lê Thị Minh C phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000  đồng  (ba  trăm ngàn đồng)  đã nộp  theo  biên  lai  thu  số  0006972  ngày 10.5.2017 của Chi cục Thi hành án dân sự quận L – TP Đà Nẵng. Bà Lê Thị Minh C đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay, ngày 11.8.2017.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


52
  • Tên bản án:
    Bản án 21/2017/HNGĐ-ST về tranh chấp ly hôn
  • Cơ quan ban hành:
  • Số hiệu:
    21/2017/HNGĐ-ST
  • Cấp xét xử:
    Sơ thẩm
  • Lĩnh vực:
    Dân sự
  • Ngày ban hành:
    11/08/2017
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 21/2017/HNGĐ-ST về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:21/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành:
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về