Bản án 75/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 75/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/07/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 02 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 211/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2019/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị K, sinh năm 1972 (có mặt).

Địa chỉ: Số D16/25E ấp bốn, xã Tân K1, huyện Bình C, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn N, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Long Hòa A1, xã Đạo T, thành phố MT, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 26/3/2019 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trần Thị K trình bày: Chị và anh N quen biết nhau từ năm 2001, sau đó có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phú K2, huyện Chợ G, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/12/2008. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không được, anh, chị đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Nay tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: có 01 con chung tên Bùi Trần Việt T1, sinh ngày 07/5/2011. Chị Trần Thị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh Bùi Văn N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Bùi Văn N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh N vẫn không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị K. Anh N vắng mặt không lý do trong tất cả các lần Tòa án triệu tập.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định, bị đơn vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N là phù hợp quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: Anh N không đến dự phiên tòa, cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với việc yêu cầu ly hôn, nuôi con của chị K. Như vậy, thể hiện mâu thuẫn giữa hai anh, chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của chị K là có cơ sở đề nghị chấp nhận; về con chung của anh, chị là cháu Bùi Trần Việt T1 hiện nay đang sống với chị K, để ổn định cuộc sống sinh hoạt, học tập của cháu T2. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị K, chị K không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, đề nghị ghi nhận; về tài sản chung, nợ chung: chị K khai không có, không yêu cầu giải quyết, đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Anh Bùi Văn N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh N.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về hôn nhân: Chị Trần Thị K và anh Bùi Văn N có đăng ký kết hôn đã được Ủy ban nhân dân xã Phú K2, huyện Chợ G, tỉnh Tiền Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 25/12/2008, nên hôn nhân giữa chị K và anh N là hợp pháp.

Tại phiên tòa chị K yêu cầu được ly hôn với anh N và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị và anh N là cháu Bùi Trần Việt T1, sinh ngày 07/5/2011, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét yêu cầu của chị Trần Thị K, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị K và anh N kết hôn năm 2008, chị K trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được, chị và anh N đã ly thân từ năm 2014 cho đến nay, hiện mỗi người sống một nơi xã cách nhau, tình cảm không còn. Xét thấy, trong thời gian ly thân chị K, anh N không có biện pháp nào đoàn tụ.

Anh N thì không cung cấp ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị K và vắng mặt không dự phiên tòa để trình bày ý kiến và biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng để Hội đồng xét xử xem xét, anh N không có thiện chí đối với cuộc hôn nhân này. Như vậy, hôn nhân giữa chị K và anh N đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Trần Thị K yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn N là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Bùi Trần Việt T1, sinh ngày 07/5/2011. Chị K yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Xét, cháu Bùi Trần Việt T1, sinh ngày 07/5/2011, chị K trình bày cháu Thanh sống với chị từ năm 2011 cho đến nay, chị chăm sóc nuôi dưỡng cháu, nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Cháu T1 có nguyện vọng sống với mẹ, anh N thì không có ý kiến của mình về việc nuôi con để Hội đồng xét xử xem xét. Do đó, để ổn định cuộc sống sinh hoạt, học tập của cháu T1 Hội đồng xét xử giao cháu T1 cho chị K nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị K không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của chị K và phù hợp quy định pháp luật được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Anh Bùi Văn N có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

[4] Về tài sản chung: Chị K trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về nợ chung: Chị K trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Trần Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Xét, Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị K.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị K và anh Bùi Văn N.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Bùi Trần Việt T1, sinh ngày 07/5/2011 cho chị Trần Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Bùi Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trần Thị K không yêu cầu.

Anh Bùi Văn N có quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về án phí: Chị Trần Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Thị K đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014004 ngày 28/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố MT, tỉnh Tiền Giang nên xem như chị Trần Thị K nộp xong án phí.

4. Chị Trần Thị K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn N vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 75/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:75/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:02/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về