Bản án 74/2019/HNGĐ-ST ngày 18/12/2019 về ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 74/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/12/2019 VỀ LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 18 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Hàm Thuận Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 332/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2019/QĐXX-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2019/QĐST-HNGĐ ngày 03/12/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Trương Thị Mộng H - Sinh năm 1992.(có mặt)

Địa chỉ: thôn L.Đ, xã T.L, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: ông Lương Trúc H1 - Sinh năm 1994. (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn L.Đ, xã T.L, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ti đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trương Thị Mộng H trình bày: bà và ông H1 tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 2016, bà và ông H1 có đến Ủy ban nhân dân xã T.L, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để đăng ký kết hôn vào ngày 19/4/2016. Lúc mới kết hôn cuộc sống hạnh phúc bình thường, đến sau khi có con khoảng năm 2018 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, vì lúc này bà biết chồng bà nghiện ma túy, bà có có khuyên bảo chồng cai nghiện, trước mặt bà thì ông H1 có hứa với bà và cả gia đình sẽ cai nghiện, nhưng sau lưng thì ông H1 vẫn lén lút sử dụng ma túy đá, do đó đầu óc ông H1 thường xuyên hoang tưởng, ghen bóng ghen gió rồi đến đầu năm 2019 ông H1 lên trường Tiểu học T.L 3 nơi bà đang dạy học mà đánh bà. Kể từ đó bà đưa con về nhà cha mẹ đẻ ở, tuy nhiên bà vẫn có qua lại, đưa con lên xuống thăm cha. Chỉ đến sau này khoảng tháng 9/2019 thì ông H1 có cầm dao vô nhà cha mẹ ruột bà đòi tìm bà để giết, lúc đó bà đang dạy học ở trường, chỉ có cha ruột bà ở nhà. Sau đó mấy ngày ông H1 cầm bình Gas đến nhà ba mẹ bà đòi bà giao con cho ông H. Bà có báo công an xã xuống có làm biên bản vào thu giữ bình Gas. Kể từ đó bà không còn qua lại hay liên lạc gì với ông H1 nữa. Bà xét thấy không thể tiếp tục chung sống với ông H. Do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lương Trúc H.

Về con chung: bà và ông H1 có 01 con chung tên Lương Hoàng H2 (sinh ngày 01/8/2016). Hiện con đang ở với bà. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản chung và nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, bị đơn là ông Lương Trúc H1 không đến Tóa án và không trình bày ý kiến mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.

Vụ án không tiến hành hòa giải do bị đơn ông Lương Trúc H1 vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện các thủ tục đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm, thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyềt định đưa vụ án ra xét xử.

Các đương sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Đề nghị Tòa án nhân dân Hàm Thuận Nam chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mộng Huyền, cho bà Thúy được ly hôn với ông Lương Trúc H;

Về con chung: Đề nghị Tòa án nhân dân Hàm Thuận Nam chấp nhận yêu cầu nuôi con của nguyên đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Trương Thị Mộng H nộp đơn xin ly hôn với ông Lương Trúc H1 (Cư trú tại: thôn L.Đ, xã T.L, huyện Hàm Thuận Nam, Bình Thuận), căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn là ông Lương Trúc H1 lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

[3]Về yêu cầu khởi kiện:

[3.1] về quan hệ hôn nhân: Với các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình giải quyết vụ án đã thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn đã xảy ra nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong thời gian dài; qua kết quả xác minh tại địa phương cho thấy ông Lương Trúc H1 là đối tượng nghiện ma túy, nhiều lần gây ra các vụ việc xô xát, hăm dọa bà Huyền, đã được gia đình đưa đi cai nghiện từ tháng 12/2019; mặc khác, ông Lương Trúc H1 mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông không đến Tòa án để trình bày ý kiến, tại các phiên hòa giải ông cũng vắng mặt, qua đó cho thấy ông Lương Trúc H1 không hề có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm với bà Trương Thị Mộng Huyền.

Như vậy, có thể khẳng định rằng tình trạng hôn nhân giữa bà Trương Thị Mộng H và ông Lương Trúc H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Trương Thị Mộng Huyền.

[3.2] Về yêu cầu nuôi con: Ông Lương Trúc H1 và bà Trương Thị Mộng H có 01 con chung tên Lương Hoàng H2 (sinh ngày 01/8/2016), hiện con đang ở với bà Huyền, xét thấy bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng con ổn định, có đủ điều kiện nuôi con, do đó cần chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Huyền.

Do bà H không yêu cầu ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con nên không buộc ông H1 phải cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản và nghĩa vụ chung: không xem xét.

[4] Về án phí: Bà Trương Thị Mộng H chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, Điều 143, 144 và Điều 266, 267 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 56, 58, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Mộng Huyền, bà Trương Thị Mộng H được ly hôn với ông Lương Trúc H.

-Về con chung: bà Trương Thị Mộng H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên tên Lương Hoàng H2 (sinh ngày 01/8/2016). Hiện con đang ở với bà Trương Thị Mộng Huyền.

Ông Lương Trúc H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

* Về án phí: Bà Trương Thị Mộng H chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số N0 0003660 ngày 18/9/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam. Bà Trương Thị Mộng H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn bà Trương Thị Mộng Huyền, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn ông Lương Trúc H1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2019/HNGĐ-ST ngày 18/12/2019 về ly hôn, nuôi con

Số hiệu:74/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Thuận Nam - Bình Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 18/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về