Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 20/07/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 74/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/07/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 20 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 198/2018/TLST-HNGĐ , ngày 27 tháng 4 năm 201 8 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69 /2018/QĐXXST- HNGĐ, ngày 21 tháng 6 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2018/QĐST - HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Nguyễn Phương T, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp 5, xã P, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Lý Chính T2, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp 5, xã P, huyện T1, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 4 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị T và anh T2 tổ chức lễ cưới vào năm 2005, hôn nhân do quen biết, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh. Vợ chồng sống với nhau hạnh phúc khoảng 12 năm đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn ly thân nhau cho đến nay.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn theo chị T là do anh T2 không quan tâm đời sống cho vợ con. Ngoài ra, anh T2 đi làm xa không về thăm hay lo lắng gì cho vợ con, chị T khuyên can về làm gần nhà nhưng anh T2 không chịu, lúc đầu đi làm xa còn cho vợ con đi theo nhưng về sau thì không cho đi theo nữa hơn một năm nay đi làm không có về thăm vợ con và ít khi liên lạc về nhà cũng không gửi tiền sinh hoạt phí về cho chị T và con, từ khi ly thân cho đến nay anh T2 vẫn không về nhà để vợ chồng gặp mặt giải quyết mâu thuẫn. Hiện nay chị T xác định tình cảm vợ chồng đối với anh T2 không còn nữa, giữ yêu cầu ly hôn với anh T2.

Về con chung: Chị T trình bày vợ chồng có hai con là Lý Thanh T3, sinh ngày 03/11/2006 và Lý Thị Bích T4, sinh ngày 11/11/2010, hiện nay đang do chị T chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu T3 và cháu T4 đều có nguyện vọng sống với mẹ là chị T sau khi cha mẹ ly hôn.

Về tài sản chung: Chị T trình bày không có.

Về nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa hôm nay chị T giữ yêu cầu ly hôn với anh Lý Chính T2; Về con chung: Chị T yêu cầu nuôi hai con là Lý Thanh T3, sinh ngày 03/11/2006 và Lý Thị Bích T4, sinh ngày 11/11/2010, yêu cầu anh T2 cấp dưỡng cho hai con mỗi tháng bằng 1.500.000đồng/ 01tháng/01 người con; Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết; Về nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Bị đơn anh Lý Chính T2 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp về việc kiểm tra, giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như ngày mở phiên tòa xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do đồng thời không có văn bản ý kiến gì phản bác hay yêu cầu phản tố gì khác đối với yêu cầu của chị T.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vắng mặt, nguyên đơn không có yêu cầu gì thêm và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Xét bị đơn anh Lý Chính T2 đã được Tòa án tống đạt thông báo việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về ngày xét xử vụ án cho anh T2 đúng theo quy định pháp luật nhưng anh T2 không đến và vắng mặt nhiều lần không lý do nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dụng vụ án: Chị T giữ yêu cầu ly hôn với anh Lý Chính T2; Về con chung chị Phương T yêu cầu nuôi hai con là Lý Thanh T3, sinh ngày 03/11/2006 và Lý Thị Bích T4, sinh ngày 11/11/2010, yêu cầu anh T2 cấp dưỡng cho hai con mỗi tháng bằng 1.500.000đồng/ 01tháng/01 người con; Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết; Về nợ chung: Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn anh Lý Chính T2 vắng mặt và không có văn bản ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phương T.

[2.1] Xét về hôn nhân: Chị T và anh T2 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh là đúng theo quy định pháp luật. Nên việc chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T2 là có cơ sở xem xét.

Chị T trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T2 không quan tâm đời sống cho vợ con, anh T2 đi làm xa không về thăm hay lo lắng gì cho vợ con, chị T có khuyên về làm gần nhà nhưng anh T2 không chịu. Anh T2 làm tài xế cho công ty xây dựng tại Phú Quốc lúc đầu đi làm một hai tháng có về nhưng hơn 01 năm nay không về cũng không gửi tiền sinh hoạt phí cho chị T và các con. Vợ chồng ly thân hơn 01 năm, chị T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tam Bình giải quyết ly hôn thì anh T2 có biết nhưng vẫn không chịu về để vợ chồng gặp mặt giải quyết mâu thuẫn mà hàn gắn lại cùng lo cho con mà để chị T tự mình giải quyết. Hiện nay chị T xác định tình cảm vợ chồng đối với anh T2 không còn nữa và giữ yêu cầu ly hôn.

Tại phiên tòa hôm nay anh T2 vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án anh T2 đã được Tòa án thông báo việc thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về ngày xét xử vụ án hợp lệ đúng theo quy định nhưng anh T2 vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp văn bản ý kiến, yêu cầu phản bác gì đối với yêu cầu của chị T thì xem như đã tự mình từ bỏ quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ. Tại phiên tòa hôm nay chị T đã xác định tình cảm vợ chồng dành cho anh T2 không còn nữa. Từ đó, cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh T2 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T2 theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là có căn cứ;

[2.2] Xét về con chung: Là Lý Thanh T3, sinh ngày 03/11/2006 và Lý Thị Bích T4, sinh ngày 11/11/2010, hiện nay đang do chị T chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu T3 và cháu T4 đều có nguyện vọng sống với mẹ là chị T sau khi cha mẹ ly hôn. Tại phiên tòa hôm nay chị T giữ yêu cầu nuôi con, yêu cầu anh T2 cấp dưỡng 1.500.000đồng/ 01 chaùu/ 01tháng cho đến khi các con tròn 18 tuổi.

Tại phiên tòa hôm nay anh T2 vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án anh T2 đã được Tòa án thông báo về yêu cầu nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị T nhưng anh T2 không cung cấp văn bản ý kiến, yêu cầu phản bác gì đối với yêu cầu này của chị T thì xem như đã tự mình từ bỏ quyền và nghĩa vụ được pháp luật bảo vệ. Thêm nữa, từ khi ly thân đến nay các con do chị T chăm sóc nuôi dưỡng và có nguyện vọng là tiếp tục sống mẹ là chị T. Từ những luận điểm trên xét thấy yêu cầu nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng cho con của chị T là có cơ sở chấp nhận và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị T. Giao cháu T3 và T4 cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Về con riêng, con nuôi không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét.

Về cấp dưỡng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nên việc chị T yêu cầu anh T2 cấp dưỡng cho hai con là có cơ sỡ xem xét. Về số tiền chị T yêu cầu cấp dưỡng cho mỗi người con là 1.500.000 đồng nhưng không xác định được mức thu nhập của anh T2 mà chỉ nghe qua người bạn làm chung là lương của anh T2 10.000.000 đồng/tháng và theo thực tế mỗi tháng anh T2 gửi sinh hoạt phí về cho chị T và các con khoảng 3.000.000 đồng/ tháng đến 4.000.000 đồng/ tháng. Nhưng từ khi ly thân đến nay chị T không xác định được lương của anh T2 của anh T2 nên chị T không bắt buộc anh Trung phải cấp dưỡng cho mỗi người con bằng 1.500.000 đồng. Tuy nhiên căn cứ vào tình hình thực tế chị T phải chăm sóc nuôi dưỡng hai con trong giai đoạn đang trưởng thành thì cần phải có sự hỗ trợ từ anh T2 thì việc chăm sóc nuôi dưỡng hai con T3 và T4 đầy đủ hơn. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu này của chị T. Buộc anh T2 phải cấp dưỡng cho mỗi người con mỗi tháng là 1.000.000đồng/01người con/01tháng (02 người con x 1.000.000đồng = 2.000.000đồng) cho đến khi hai con T3 và T4 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành.

Anh Lý Chính T2 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[2.3] Xét về tài sản chung: Do anh T2 vắng mặt, chị T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét.

[2.4] Xét về nợ chung: Do anh T2 vắng mặt, chị T trình bày trong thời gian sống chung vợ chồng không có nợ ai hay ngược lại không có ai nợ vợ chồng và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0010872, ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh Vĩnh Long.

Anh Lý Chính T2 phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc cấp dưỡng nuôi con, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh Vĩnh Long.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Chị Hồ Nguyễn Phương T;

Về hôn nhân: Cho chị T được ly hôn với anh T2;

Về con chung: Giao hai con là Lý Thanh T3, sinh ngày 03/11/2006 và Lý Thị Bích T4, sinh ngày 11/11/2010 cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng. Về con riêng, con nuôi không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh T2 phải cấp dưỡng cho mỗi người con mỗi tháng là 1.000.000đồng/01 người con/ 01 tháng (02 người con x 1.000.000đồng = 2.000.000đồng) cho đến khi hai con T3 và T4 tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật được đưa ra thi hành.

Anh Lý Chính T2 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Về tài sản chung: Do anh T2 vắng mặt, chị T không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét.

Về nợ chung: Do anh T2 vắng mặt, chị T trình bày trong thời gian sống chung vợ chồng không có nợ ai hay ngược lại không có ai nợ vợ chồng và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt vấn đề xem xét.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc yêu cầu ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0010872, ngày 27 tháng 4 năm 2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh Vĩnh Long.

Anh Lý Chính T2 phải nộp số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí về việc cấp dưỡng nuôi con, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T1, tỉnh Vĩnh Long.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3/ Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

163
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 20/07/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:74/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Bình - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 20/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về