Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 12/06/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 74/2018/HNGĐ-ST NGÀY 12/06/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý: 195/2018/TLST-HNGĐ 23 4 năm 2018 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Võ Nguyễn Thu Th, sinh năm: 1980 (có mặt); Địa chỉ: Số A, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Anh Đỗ Minh Q, sinh năm: 1990. (xin vắng mặt); Địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ghi ngày 13/4/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Nguyễn Thu Th trình bày:

Do quen biết nên chị và anh Đỗ Minh Q tiến tới hôn nhân vào năm 2012, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Minh Q.

Về con chung: Có 01 con chung tên Đỗ Đạt Thành Nh, sinh ngày 14/8/2013. Hiện con chung đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Theo tờ tự khai (không ghi ngày tháng), bị đơn anh Đỗ Minh Q trình bày:

Anh thống nhất theo lời trình bày của chị chị Th. Nay anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Th, về con chung: Anh đồng ý để chị Th nuôi, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Xét thấy, chị Võ Nguyễn Thu Th yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Minh Q. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn theo quy định tại Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về tố tụng: Xét thấy anh Đỗ Minh Q có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Minh Q.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Nguyễn Thu Th và anh Đỗ Minh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường Tân Tạo, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23/5/2013 tại Quyển số 01/2013, đây là hôn nhân hợp pháp. Chị Th đề nghị Tòa án cho ly hôn vì cho rằng trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Anh Q thống nhất theo lời trình bày của chị Th và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị Th nên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Nguyễn Thu Th.

[4] Về con chung: Chị Võ Nguyễn Thu Th và anh Đỗ Minh Q thống nhất có 01 con chung tên Đỗ Đạt Thành Nh, sinh ngày 14/8/2013 hiện đang ở cùng chị Th, khi ly hôn chị Th yêu cầu trực tiếp nuôi cháu Nh, anh Q đồng ý để chị Th nuôi cháu Nh. Căn cứ vào các Điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th về việc chị Th được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nh.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th và anh Q xác định không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Chị Võ Nguyễn Thu Th phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 5

Điều 27 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 35, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Võ Nguyễn Thu Th được ly hôn với anh Đỗ Minh Q;

2. Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Đạt Thành Nh, sinh ngày 14/8/2013 cho chị Võ Nguyễn Thu Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đỗ Minh Q không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Th không yêu cầu.

Anh Đỗ Minh Q được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Võ Nguyễn Thu Th phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 15508 ngày 29/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cai Lậy nên xem thi hành xong.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 12/06/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:74/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:12/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về