Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 10/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TH, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 74/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/10/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 10 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện TH, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2018/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2018 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 68/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2018 và quyết định hoãn phiên Tòa số: 56/2018/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1986.

Nơi cư trú: Thôn TV, xã VL, huyện TH, tỉnh Thái Bình

- Bị đơn: Anh Hoàng Ngọc T sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Thôn LT, xã TN, huyện TH, tỉnh Thái Bình.

(Chị D có mặt, anh T vắng mặt tại phiên Tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 23/4/2018 cũng như tại bản tự khai và tại phiên Tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị và anh Hoàng Ngọc T kết hôn với nhau ngày 04/11/2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã TN, huyện TH, tỉnh Thái Bình. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không tu chí làm ăn và có quan hệ bất chính với người khác nhưng chị không có căn cứ gì dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xúc phạm danh dự nhau. Đến tháng 12/2016, chị không chịu nổi nên đã bỏ về nhà mẹ đẻ chị ở tại xã VL và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, trong thời gian sống ly thân giữa chị D và anh T không ai có trách nhiệm và nghĩa vụ với ai và cũng không liên lạc gì với nhau, gia đinh hai bên nội, ngoại đã hòa giải nhưng không có kết quả. Chị xác định không còn tình cảm với anh T, vợ chồng chị đã mâu thuẫn trầm trọng nên chị xin được ly hôn anh Hoàng Ngọc T.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung là Hoàng Ngọc S, sinh ngày 04/02/2014. Quan điểm của chị xin nuôi cháu Hoàng Ngọc S và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. 

Ông Hoàng Ngọc A là bố để anh Hoàng Ngọc T trình bày: Mâu thuẫn vợ chồng chị D và anh T là do tính tình không hợp, chị D và anh T đã sống ly thân hai năm nay. Quan điểm của anh T thông qua gia đình ông là đồng ý ly hôn chị D.

Bị đơn anh Hoàng Ngọc T cố tình không đến Tòa án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo cung cấp chứng cứ cho anh T yêu cầu anh T cung cấp chứng cứ về quan hệ hôn nhân, con chung và tài sản chung cho Tòa án, cũng như gửi các văn bản thể hiện quan điểm của anh về cho Tòa án biết về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản, nợ chung. Anh Hoàng Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên Tòa nhưng anh T cố tình không đến Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến của anh T có xác nhận của chính quyền địa phương nơi anh T đang sinh sống gửi Tòa án.

Tại phiên Tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TH phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Hoàng Ngọc T. Về quan hệ con chung: Xử giao con Hoàng Ngọc S, sinh ngày 04/02/2014 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không phải giải quyết. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Không phải giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên Toà.

Về thủ tục tố tụng: Anh Hoàng Ngọc T là bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào khoản 3 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Ngọc T.

Về nội dung vụ án:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Ngọc T kết hôn với nhau có đăng ký ngày 04/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã TN, huyện TH, tỉnh Thái Bình, đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống giữa chị D và anh T không tôn trọng, quan tâm, giúp đỡ nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình nên giữa chị D và anh T đều bất đồng về suy nghĩ cũng như lối sống, hành động đều trái ngược nhau, do đó hai bên không quan tâm, không có trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ 12/2016 đến nay. Anh Hoàng Ngọc T không đến Tòa án tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, không có mặt tại phiên Tòa chứng tỏ anh T bỏ mặc, không quan tâm đến chị D thể hiện không thiện chí trong việc cải thiện tình trạng hôn nhân đang mâu thuẫn trong khi chị D xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T, kiên quyết xin ly hôn anh T. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị D và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D, xử cho chị D được ly hôn anh T.

[2]. Về quan hệ con chung: Chị D và anh T có một con chung là Hoàng Ngọc S. Quan điểm của chị xin nuôi con Hoàng Ngọc S và chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, xét thấy cháu Hoàng Ngọc S đang còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ để đảm bảo về mọi mặt cho cháu Hoàng Ngọc S cả về thể chất cũng như tinh thần của cháu. Vì vậy, cần xử giao con Hoàng Ngọc S cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Về quan hệ tài sản và nợ chung chị D khai: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T không có văn bản nào gửi Tòa án thể hiện quan điểm của mình về phần tài sản và không có lời khai về phần tài sản, không có mặt tại phiên tiếp cận chứng cứ công khai và hòa giải, tại phiên Tòa, do đó phần tài sản Tòa án không giải quyết. Khi nào các đương sự có yêu cầu chia tài sản phải thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án sẽ thụ lý giải quyết bằng một vụ án khác.

[4]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5]. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D và anh Hoàng Ngọc T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83, điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Khoản 3 điều 228, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016 án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Hoàng Ngọc T.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao con Hoàng Ngọc S, sinh ngày 04/02/2014 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T, chị D có quyền thăm nom con chung. Anh T và chị D có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi có yêu cầu.

3. Về quan hệ tài sản và nợ chung: Tòa án không giải quyết về phần tài sản. Khi nào chị D và anh T có yêu cầu chia tài sản phải thực hiện thủ tục khởi kiện theo quy định chung của pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết bằng vụ án khác .

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị D đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0008704 ngày 29 tháng 5 năm 2018 của chi cục Thi hành án dân sự huyện TH, tỉnh Thái Bình. Chuyển số tiền chị D đã nộp tạm ứng 300.000 đồng sang tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Hoàng Ngọc T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

237
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 74/2018/HNGĐ-ST ngày 10/10/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:74/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tiền Hải - Thái Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 10/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về