Bản án 73/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 73/HS-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH ĐKPTGTĐB

Trong ngày 16 và ngày 17 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Dương Chí D, sinh năm: 1988 tại: Tỉnh Bạc Liêu; Thường trú: Ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Dương Văn T (chết) và bà Đinh Thị D; có vợ tên: Đào Thanh T và chưa con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/8/2018 (có mặt)

Người bào chữa: Bà Trương Thị Anh Đ, Luật sư Công ty luật hợp danh Trần C thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo (có mặt).

Bị hại:

1/ Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: 174/8 khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Nguyễn Đắc H, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã S, huyện G, tỉnh Bắc Ninh.

3/ Ông Lê Quang T, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Địa chỉ:112/34/11 ĐTH, phường M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

4/ Ông Huỳnh K, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp BĐ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

Ủy quyền cho Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: 237/26/5 TVĐ, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

5/ Ông Trần Minh T, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn dân sự:

1/ Công ty cổ phần A.

Địa chỉ: 648 NT, Phường M, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Đoàn Đức N, sinh năm 1959 (vắng mặt).

Địa chỉ: 3/53/10 TT, Phường M, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Công ty TNHH MTV sản xuất vận tải thương mại xây dựng Đ.

Địa chỉ: 174/8 Tổ 4, khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm D P, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Địa chỉ: 455/2A khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Công ty cổ phần Tập đoàn ML.

Địa chỉ: 64-68 HBT, BN, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh Minh. 

Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Quốc B, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: 38/4 Đường số MH, Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Công ty cổ phần ĐT tỉnh Khánh Hòa.

Địa chỉ: 360D BVĐ, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: 237/26/5 TVĐ, Phường M, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

5/ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1965 (vắng mặt).

Ủy quyền cho Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1987 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: 285/3B khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Một thành viên vận tải CĐV.

Địa chỉ: 24/3A HTP, Khu phố M, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Cao C, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: 272/10/25 PVH, phường TTN, Quận MH, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn dân sự: Bà Trần Thị Tuyết M - Luật sư Công ty luật hợp danh Trần C thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH LKNĐ

Địa chỉ: Lầu 6, 89 P, phường B, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Minh T, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Địa chỉ: 202C ấp, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 5 giờ 45 phút ngày 30/12/2017 Dương Chí D điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-697.14 kéo theo rờ móoc biển số 51R-153.99 lưu thông trên đường Nguyễn Văn Linh giao với đường quốc lộ 50 thuộc ấp 1A, xã Bình Hưng, huyện B, TP. Hồ Chí Minh, D ngủ gật để xe đụng vào phía sau xe ô tô khách biển số 51B-163.65 do Trần Văn Đ điều khiển đang dừng chờ đèn đỏ phía trước, xe ô tô khách biển số 51B-163.65 lao về phía trước va chạm với xe ô tô taxi biển số 51A-983.37 do Nguyễn Đắc H điều khiển và xe ô tô taxi biển số 51F-343.44 do Lê Quang T điều khiển dừng đèn đỏ và tiếp tục đụng vào phía sau xe ô tô tải biển số 51C-769.48 do Huỳnh K điều khiển làm xe K lao về phía trước đụng vào xe ô tô đầu kéo biển số 51C-787.12 kéo theo rờ móoc biển số 51R-136.36 đều đang dừng đèn đỏ. Vụ tai nạn giao thông xảy ra làm ông Dũng và ông K bị thương và được người dân đưa đến bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 234/TgT.18 của Trung tâm pháp y-Sở y tế TP.Hồ Chí Minh kết luận ông Huỳnh K: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 49% (bốn mươi chín phần trăm).

Đối với ông Nguyễn Văn D là khách trên xe ô tô biến số 51B-163.65 bị thương nhẹ, ông Dũng đã từ chối giám định.

Ngày 11/4/2018 Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện B có kết quả định giá xác định tổng giá trị thiệt hại do tai nạn của các xe ô tô biển số 51B-163.65, 51A-983.37, 51F-343.44, 51C-769.48 là 939.525.267đ (chín trăm ba mươi chín triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi bảy đồng).

Đối với xe 51C-787.12 kéo theo rờ móoc biển số 51R-136.36 do Công ty TNHH LHNĐ đứng tên chủ sở hữu, xe bị hư hỏng nhẹ, đại diện của Công ty đã tự khắc phục hậu quả, không thắc mắc hay khiếu nại gì.

Ngày 19/4/2018, Phân viện khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh có kết luận giám định về hệ thống phanh, hệ thống ga, hệ thống lái của xe ô tô đầu kéo biển số 51C-697.14 như sau:

+ Hệ thống phanh chính trên xe ô tô biến số 51C-697.14. thuộc loại phanh khí nén. Phanh đỗ thuộc loại tự hãm. Các cụm chi tiết của hệ thống phanh đầy đủ, lắp đặt đúng vị trí. Không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật trên các cụm chi tiết của hệ thống phanh.

Tại thời điểm tham gia giao thông, hệ thống phanh trên xe ô tô biển số 51C-697.14 không bị hư hỏng do sự cố kỹ thuật.

+ Hệ thống lái trên xe ô tô biển số 51C-697.14 thuộc loại lái có trợ lực. Các cụm chi tiết của hệ thống lái đầy đủ được lắp đặt đúng vị trí. Không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kỹ thuật trên các cụm chi tiết của hệ thống lái.

+ Không phát hiện dấu vết hư hỏng do sự cố kĩ thuật trên các cụm chi tiết của hệ thống ga trên xe ô tô biển số 51C-697.14 không bị hư hỏng do sự cố kỹ thuật.

Ngày 02/5/2018, Phân viện khoa học hình sự tại TP.Hồ Chí Minh có kết luận giám định về dấu vết va chạm các phương tiện trên như sau:

Dấu vết va chạm, chiều hướng dấu vết va chạm giữa các phương tiện:

+ Dấu vết trượt xước bám chất màu cam, gãy vỡ biến dạng mặt ngoài các chi tiết phía trước đầu xe ô tô đầu kéo 51C-697.14 (khung tản nhiệt, chắn đà) có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước mất chất màu cam, bám chất màu trắng, gãy vỡ mặt ngoài phía sau xe ô tô biến số 51B-163.65 có chiều từ sau về trước.

+ Dấu vết trượt xước mất sơn màu trắng, bám chất màu đỏ và màu tím mặt ngoài phía trước bên trái xe ô tô biển số 51B-163.65 có chiều từ trước về sau phù hợp với vết trượt xước, biến dạng mất chất màu trắng và màu tím mặt ngoài bên phải xe ô tô biển sô 51A-983.37 có chiều từ sau về trước, từ phải sang trái.

+ Dấu vết cong biến dạng và trượt bám chất màu xanh (dạng chữ nước ngoài) phía trước bên phải đầu xe ô tô biển số 51B-163.65 có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước biến dạng chắn đà phía sau và trượt xước đề-can (dạng chữ nước ngoài) phía sau bên phải thùng xe ô tô biển số 51C-769.48 có chiều từ sau về trước.

+ Dấu vết trượt gãy bám chất màu xanh mặt ngoài bên phải chắn đà phía trước xe ô tô biển sô 51B-163.65 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước mất chất màu xanh, biến dạng mặt ngoài phía sau bên phải xe ô tô biển số 51F-343.44 có chiều từ sau về trước.

+ Dấu vết gãy vỡ, biến dạng bám chất màu đỏ phía trước đầu xe ô tô biển số 51C-769.48 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước mát chất màu đỏ, bám chất màu trắng mặt ngoài phía sau rờ móoc biển số 51R-136.36 có chiều từ sau về trước.

Tại Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 19 tháng 9 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Dương Chí D về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa:

1. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng.

2. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B trình bày lời luận tội, giữ quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo với mức án từ 04 năm đến 05 năm tù. Về phần dân sự: Công ty TNHH MTV CĐV đã bồi thường cho người bị hại cũng như nguyên đơn dân sự. Do đó, cũng đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 51C-697.14 cùng sơ mi rơmoóc tải, nhãn hiệu CIMC, biển số 51R-153.99 cho Công ty TNHH MTV CĐV.

3. Luật sư Đ bào chữa cho bị cáo thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Luật sư nêu lên những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo là lao động chính trong gia đình, Công ty TNHH MTV CĐV cũng đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và nguyên đơn dân sự và được những người này làm đơn bãi nại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo mức án thấp nhất đồng thời cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

4. Luật sư M bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn dân sự: Công ty TNHH MTV CĐV đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại và nguyên đơn dân sự và được những người này làm đơn bãi nại và rút yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại chiếc xe ô tô đầu kéo biển số 51C-697.14 cùng sơ mi rơmoóc tải, nhãn hiệu CIMC, biển số 51R-153.99 cho Công ty TNHH MTV CĐV.

5. Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra của bị cáo, bị hại và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 5 giờ 45 phút ngày 30/12/2017 bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-697.14 kéo theo rờ móoc biển số 51R-153.99 lưu thông trên đường Nguyễn Văn L với đường quốc lộ 50, do bị cáo ngủ gật nên để xe của mình đụng vào phía sau xe ô tô khách biển số 51B-163.65 do Trần Văn Đ điều khiển, xe ô tô khách biển số 51B-163.65 lao về phía trước va chạm với xe ô tô taxi biển số 51A-983.37 do Nguyễn Đắc H điều khiển và xe ô tô taxi biển số 51F-343.44 do Lê Quang T điều khiển, tiếp tục đụng vào phía sau xe ô tô tải biển số 51C-769.48 do Huỳnh K điều khiển làm xe ông K lao về phía trước đụng vào xe ô tô đầu kéo biển số 51C-787.12 kéo theo rờ móoc biển số 51R-136.36, tất cả các xe ô tô đều đang dừng đèn đỏ. Tai nạn xảy ra để lại hậu quả rất nghiêm trọng, cụ thể ông K bị thương tật 49% và tài sản bị thiệt hại là 939.525.267 đồng. Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

[3] Xét hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại đến sức khỏe, tài sản của người khác. Khi thực hiện hành vi nêu trên bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[4] Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phía Công ty TNHH MTV CĐV cũng đã khắc phục hậu quả cho người bị hại, nguyên đơn dân sự và những người này cũng đã bãi nại cho bị cáo. Từ đó, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà đáng lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Lời bào chữa của luật sư Đ nêu lên những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo được hưởng án treo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Luật sư M bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại xe cho bị đơn dân sự. Xét yêu cầu của Luật sư M là có căn cứ, bởi lẽ bên phía bị đơn dân sự đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại, nguyên đơn dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Tại phiên tòa hôm nay người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện:

Công ty TNHH MTV CĐV đã bồi thường cho Công ty CP AD Việt Nam số tiền 40.000.000 đồng, bồi thường cho Công ty TNHH MTV sản xuất vận tải thương mại xây dựng ĐTT số tiền 450.000.000 đồng, bồi thường cho Công ty CP ĐT tỉnh Khánh Hòa 100.000.000 đồng, bồi thường cho Công ty cổ phầnTập đoàn Mai Linh số tiền 52.500.000 đồng, bồi thường cho ông Huỳnh K số tiền 40.000.000 đồng, bồi thường cho ông Dũng số tiền 30.000.000 đồng và những người này không có yêu cầu gì thêm. Do đó, Tòa không xét.

Công ty TNHH LHNĐ, ông Trần Minh T, ông Lê Quang T, ông Nguyễn Đắc H, ông Trần Văn Đ không có yêu cầu bồi thường. Do đó, Tòa không xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

- Các xe ôtô biển số 51B-163.65, 51A-983.37, 51F-343.44, 51C-769.48 và xe ô tô biển số 51C-787.12 kéo theo rờ móoc biển số 51R-136.36. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-697.14 cùng sơ mi rơmoóc tải, nhãn hiệu CIMC, biển số 51R-153.99 là tài sản của Công ty TNHH MTV CĐV nên trả lại cho Công ty TNHH MTV CĐV là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009;

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

[1] Tuyên bố bị cáo Dương Chí D phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

[2] Xử phạt: bị cáo Dương Chí D 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2018.

[3] Trả lại cho Công ty TNHH MTV CĐV 01 xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu INTERNATIONAL, số loại: PROSTAR, biển số 51C-697.14 cùng sơ mi rơmoóc tải, nhãn hiệu CIMC, biển số 51R-153.99.

Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/02/2019 tại Kho Mỹ Xuân thuộc xã B.

[4] Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Bị cáo, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


40
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 73/HS-ST ngày 17/04/2019 về tội vi phạm quy định ĐKPTGTĐB

      Số hiệu:73/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Chánh - Hồ Chí Minh
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:17/04/2019
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về