Bản án 73/2020/HNGĐ-ST ngày 17/09/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 73/2020/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 195/2020/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1/- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1990;

Địa chỉ: Ấp P, xã H, thành phố B, tỉnh Bến Tre.

2/- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Ấp a, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Chị Đ và anh N vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thanh N do quen biết và gia đình cha mẹ hai bên đồng ý, được Ủy ban nhân dân xã Tân Bình cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/12/2014. Chị và anh N chung sống với nhau một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, thường hay tranh cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không thể tiếp tục chung sống với nhau được. Chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Giữa chị và anh N có 01 con chung tên Nguyễn Minh T, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017. Ly hôn chị yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng.

- Tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh N không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không tham gia phiên hòa giải đoàn tụ.

*Tại phiên phiên tòa:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Nguyễn Thanh N vắng mặt không lý do.

- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa xác định: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự chưa phát hiện vi phạm nên không kiến nghị gì. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Đ là nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Đ.

Anh Nguyễn Thanh N là bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị Đ giao nộp 01 giấy chứng nhận kết hôn số 48/2014 ngày 15/12/2014 của Ủy ban nhân dân xã Tân Bình nên Hội đồng xét xử xác định giữa chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Thanh N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

Theo đơn khởi kiện, chị Đ xác định giữa chị và anh N phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên tranh cãi, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Anh N không có văn bản phản đối yêu cầu ly hôn của chị Đ, không tham gia phiên hòa giải đoàn tụ và vắng mặt tại phiên tòa chứng tỏ nên Hội đồng xét xử có căn cứ xác định anh N không còn quan tâm đến tình trạng hôn nhân với chị Đ và lời trình bày cị Đ về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là có căn cứ.

Thấy rằng: Tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Đ được ly hôn với anh N là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình.

[3]. Về con chung:

- Chị Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Anh N không có văn bản thể hiện ý kiến về việc nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Con chung của chị Đ và anh N theo giấy khai sinh xác định chưa đủ 36 tháng tuổi đang sống ổn định với chị Đ nên yêu cầu nuôi con chung của chị Đ là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

- N vụ cấp dưỡng cho con:

Chị Đ yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Anh N không có ý kiến phản đối.

Hội đồng xét xử thấy rằng: Do con chung giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh N không trực tiếp nuôi con phải có N vụ cấp dưỡng cho con nên chị Đ yêu cầu anh N thực hiện N vụ cấp dưỡng cho con là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh N không có ý kiến phản đối mức cấp dưỡng cho con theo yêu cầu của chị Đ nên có căn cứ xác định mức cấp dưỡng cho con 2.000.000 đồng/tháng theo yêu cầu của chị Đ là phù hợp với khả năng kinh tế của anh N; Mặt khác, mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp nhu cầu cần thiết để nuôi bé phát triển bình thường về mọi mặt nên hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đ, buộc anh N phái có N vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng đến khi con chung đủ 18 tuổi.

[4]. Về tài sản chung: Chị Đ không yêu cầu giải quyết.

[5]. Về án phí:

Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]. Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

 * Căn cứ vào:

- Điểm a, b khoản 2 Điều 227; Khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Xử:

1. Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N.

2. Con chung:

Giao 01 con chung tên Nguyễn Minh Trí, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2017 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

Buộc anh N phải có N vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Thời gian thực hiện N vụ cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Anh N có quyền, N vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được ngăn cản.

3. Về án phí:

Chị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0638 ngày 15/6/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy nên chị Đ không phải nộp tiếp tiền án phí.

Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Chị Đ và anh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

57
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2020/HNGĐ-ST ngày 17/09/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:73/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Cai Lậy - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:17/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về