Bản án 73/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 73/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/09/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 23 tháng 9 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2019/TL.ST-HNGĐ, ngày 05 tháng 6 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165A/2019/QĐXX-ST ngày 06 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự.

1. Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Hồng D (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 5B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu G

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 5B, xã T, huyện C, tỉnh Hậu G

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 22/5/2019 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng D trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa L, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, ông T còn có người phụ nữ khác bên ngoài và còn hành hung bà. Bà và ông T đã tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không được, càng ngày mâu thuẫn càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên vợ chồng không còn chung sống với nhau cách đây khoảng 01 năm. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà D yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: Có 03 con chung tên Nguyễn Văn N (nam), sinh ngày 19/10/1999, Nguyễn Thị Cẩm T (nữ), sinh ngày 20/10/1997, Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 09/10/2001. Bà D yêu cầu được nuôi cháu Tình đến khi thành niên và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung. Về T sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Văn T; Về con chung, về T sản chung và nợ chung: Không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các T liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Giữa bà Đỗ Thị Hồng D và ông Nguyễn Văn T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn năm 2016. Quá trình chung sống, giữa bà D và ông T phát sinh mâu thuẫn. Đến ngày 22/5/2019, bà D nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông T, xét đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt và bà D có yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bà D, ông T.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa bà D và ông T tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp trên cơ sở giấy đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, quá trình chung sống giữa bà D và ông T phát sinh mâu thuẫn. Bà D cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, ông T còn có người phụ nữ khác bên ngoài và còn hành hung bà. Bà D và ông T đã cố gắng giải quyết nhưng không được, do sự bất đồng giữa hai bên quá lớn nên đã ly thân khoảng một năm nay. Quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần động viên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành, bà D xác định không còn tình cảm với ông T nên cương quyết ly hôn. Đối với ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến. Từ những chứng cứ nêu trên xét thấy mâu thuẫn giữa bà D và ông T là trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.

[3.2] Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung là cháu Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 09/10/2001 của bà D, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành triệu tập ông T để tiến hành làm việc nhưng vắng mặt nên chưa ghi nhận ý kiến về vấn đề con chung. Tuy nhiên, cháu Tình hiện đang sống với bà D và cháu Tình cũng có nguyện vọng được sống với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, nhằm đảm bảo điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và ổn đinh cuộc sống cho cháu Tình nên tiếp tục giao cháu Tình cho bà D tiếp tục nuôi dưỡng đến khi thành niên. Bà D chưa có yêu cầu cấp dưỡng nên ông T chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

[3.3] Về T sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[4] Từ những tình tiết, căn cứ nêu trên, xét yêu cầu của bà D cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[5] Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Hồng D được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Văn T (nam), sinh ngày 09/10/2001 cho bà D nuôi dưỡng đến khi thành niên. Ông T chưa có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Về T sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đỗ Thị Hồng D phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai số 0018912 ngày 05 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (bà D đã nộp xong).

Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 73/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:73/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành A - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về