Bản án 72/2020/HNGĐ-ST ngày 23/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 72/2020/HNGĐ-ST NGÀY 23/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 165/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 47/2020/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị X sinh năm 1981

 - Bị đơn: Anh Vũ Văn T sinh năm 1982

Cùng nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện P, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có chị X, vắng mặt anh T không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 16/6/2020, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Văn T tự do, tự nguyện tìm hiểu dẫn đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Bình vào ngày 27/3/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình anh T. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, hòa thuận đến tháng 6/2015 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau, có lần vợ chồng mâu thuẫn anh T đã đánh chị. Mâu thuẫn căng thẳng vào tháng 02/2020 vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị xin ly hôn anh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Vũ Văn T1 sinh ngày 28/01/2013 và Vũ Minh D sinh ngày 26/6/2015, hiện cả hai con đang ở với chị. Ly hôn, chị nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Hiện tại chị không có thai nghén gì.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Vũ Văn T vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Kết quả xác minh với ông Vũ Văn N – bố đẻ anh Vũ Văn T và cơ sở thôn Đông, xã T, huyện P, tỉnh Thái Bình thấy: Chị Trần Thị X và anh Vũ Văn T là vợ chồng. Quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng thì gia đình và cơ sở thôn không biết rõ, chỉ biết từ sau khi chị X sinh con Vũ Minh D thì vợ chồng mâu thuẫn, có lần vợ chồng mâu thuẫn anh T đã đánh chị X, gia đình và cơ sở thôn đã động viên, hòa giải để vợ chồng đoàn tụ nhưng không có kết quả. Nay chị X có đơn xin ly hôn anh T gia đình và cơ sở thôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị X và anh T có 02 con chung là Vũ Văn T1 sinh ngày 28/01/2013 và Vũ Minh D sinh ngày 26/6/2015. Nếu Tòa án giải quyết cho chị X và anh T ly hôn về nuôi con và cấp dưỡng cho con gia đình và cơ sở thôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, gia đình và cơ sở thôn không biết rõ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Bình về giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Viện kiểm sát không có ý kiến nhận xét về việc tuân theo pháp luật của bị đơn tại phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: xử cho chị Trần Thị X được ly hôn anh Vũ Văn T; giao 02 con chung là Vũ Văn T1 sinh ngày 28/01/2013 và Vũ Minh D sinh ngày 26/6/2015cho chị Trần Thị X trực tiếp nuôi dưỡng, chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con, anh T có quyền đi lại thăm nom con chung; về tài sản chung không đặt ra giải quyết; chị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng: Chị Trần Thị X khởi kiện ly hôn, nuôi con chung với anh Vũ Văn T. Do anh T là bị đơn cư trú tại thôn Đông, xã T, huyện P, tỉnh Thái Bình nên Tòa án nhân dân huyện P, thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố Tụng dân sự. Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị X và anh Vũ Văn T được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Thái Bình cấp giấy đăng ký kết hôn số 22 ngày 27/3/2012 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến tháng 6/2016 thì vợ chồng mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thương yêu thông cảm cho nhau, cũng có lần mâu thuẫn anh T đã đánh chị X, gia đình và cơ sở thôn đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, tháng 02/2020 vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay chị X xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, chị xin ly hôn anh T. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh T vắng mặt tại phiên hòa giải và các buổi tố tụng khác của Tòa án. Điều đó chứng tỏ anh T không có thiện chí hòa giải, không có nguyện vọng đoàn tụ vợ chồng. Như vậy, hôn nhân của anh, chị thực tế chỉ tồn tại về mặt hình thức, anh, chị thực sự không thể chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị X, xử cho chị X được ly hôn anh T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị X và anh Vũ Văn T có 02 con chung là Vũ Văn T1 sinh ngày 28/01/2013 và Vũ Minh D sinh ngày 26/6/2015, hiện cả hai con đang ở với chị. Ly hôn, chị X nhận trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con. Còn anh T không có ý kiến về nuôi con và cấp dưỡng cho con. Xét nguyện vọng nuôi con của chị X là chính đáng, các con chung hiện đang ở với chị X, lại có nguyện vọng được ở với mẹ, để không ảnh hưởng đến việc học tập và sinh hoạt của các con chung, cần giao cả 02 con chung cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng, chị X không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con là phù hợp với nguyện vọng của chị X, cũng như đáp ứng nguyện vọng của con chung và phù hợp với các Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Chị Trần Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn anh Vũ Văn T không có ý kiến trình bày, do đó về tài sản chung Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Chị Trần Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị X và anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị X được ly hôn anh Vũ Văn T.

2.Về quan hệ con chung: Xử giao 02 con chung là Vũ Văn T1 sinh ngày 28/01/2013 và Vũ Minh D sinh ngày 26/6/2015 cho chị Trần Thị X trực tiếp nuôi dưỡng. Chị X không yêu cầu anh Vũ Văn T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T có quyền, nghĩa vụ trông nom giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

3.Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị X đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004447 ngày 06 tháng 7 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị X có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 72/2020/HNGĐ-ST ngày 23/09/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:72/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quỳnh Phụ - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về