Bản án 72/2018/HS-ST ngày 12/11/2018 về tội vận chuyển hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

BẢN ÁN 72/2018/HS-ST NGÀY 12/11/2018 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2018/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Phan Hoài N, sinh năm 1993 tại tỉnh Tây Ninh;

Nơi cư trú: ấp T, xã T1, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn N1 và bà Phan Thị L; vợ con chưa có; tiền án, tiền sự: không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/7/2018 đến ngày 25/7/2018.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/7/2018 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ ngày 16/7/2018 Phan Hoài N đang điều khiển xe mô tô (không biển số) vận chuyển 04 thùng giấy bên trong chứa 2.000 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero ở khu vực ấp Thành Nam, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an Tây Ninh bắt quả tang. Quá trình điều tra N khai nhận số thuốc lá hiệu Hero nêu trên N nhận vận chuyển thuê từ Campuchia về Việt Nam từ một người Campuchia tên Tấn để hưởng số tiền 100.000 đồng. Khi về Việt Nam Tấn sẽ gọi điện thoại cho N biết phải giao thuốc lại cho ai, ở đâu nhưng chưa kịp giao thì bị bắt.

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô không biển số; 2.000 bao thuốc lá điếu hiệu Hero; số tiền 100.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo N đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 62/QĐ/KSĐT ngày 27 tháng 9 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Phan Hoài N về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 191; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị Quyết Số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo Phan Hoài N từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật. 

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình  phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 04 giờ ngày 16/7/2018 bị cáo Phan Hoài N điều khiển xe mô tô (không biển số) vận chuyển thuê từ Campuchia về Việt Nam 04 thùng giấy bên trong chứa 2.000 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero đến khu vực ấp Thành Nam, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Cảnh sát Kinh tế Công an Tây Ninh bắt quả tang. Theo quy định tại Khoản 40 và 41 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 quy định thuốc lá điếu nhập lậu là hàng cấm. Bị cáo N đã vận chuyển hàng cấm với số lượng 2.000 bao thuốc lá, do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phan Hoài N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý độc quyền về việc vận chuyển hàng cấm của Nhà nước nên cần có mức hình phạt tương xứng. Đồng thời, cần xem xét đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: không có. Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; không thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo quy định tại Điều 3 Nghị Quyết Số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên xét thấy không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội để chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo vẫn có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn địa phương.

[5] Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với số tiền 100.000 đồng là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 2.000 bao thuốc lá điếu hiệu Hero là hàng cấm.

- Đối với 01 xe môtô loại Honda CD lắp ráp không biển số là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 191; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Phan Hoài N phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Phan Hoài N 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (Một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Hoài N cho Ủy ban nhân dân xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng; 01 xe môtô loại Honda CD lắp ráp không biển số; không nhãn hiệu; loại xe: không xác định; số loại: không xác định; số khung CD50-1306007; số máy MD50E-2406078 (đã qua sử dụng); 2.000 bao thuốc lá điếu hiệu Hero.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủyban thường vụ Quốc hội: bị cáo N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


63
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về