Bản án 72/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 72/2018/HNGĐ-ST NGÀY 29/11/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 214/2018/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2018, về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 23 tháng 11 năm 2018, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Diễm C, sinh năm 1985.

Cư trú tại: ấp 6, xã P, huyện C, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1980.

Cư trú tại: ấp N, xã A, huyện C, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 8 năm 2018 và trong quá trình xét xử, bà Võ Thị Diễm C là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh T được tổ chức lễ cưới năm 2002, có đăng ký kết hôn ngày 23/8/2007, tại Ủy ban nhân dân xã Phước Tân Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Sau ngày cưới vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng ba năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T thường xuyên uống rượu say về chửi bới, đánh đập, dùng bạo lực hâm dọa bà. Hai người không còn chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay nên tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Bà và ông T có với nhau hai người con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2002 và Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 15/12/2004, hiện nay ông T đang trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Thành Nguyên, bà đang trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Thị Diễm Huỳnh. Khi ly hôn bà yêu cầu được giữ nguyên tình trạng nuôi con như hiện nay, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Ông Nguyễn Thanh T là bị đơn: Theo xác nhận của công an xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An ngày 28/8/2018, ông T hiện nay đang có mặt tại địa phương, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các thông báo phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bà Nguyễn Thị Ôi là mẹ của ông T, cam kết giao lại cho ông T nhưng đương sự vắng mặt không lý do, do đó cần áp dụng các Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Võ Thị Diễm C xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh T, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành thụ lý, giải quyết.

[2] Bà Võ Thị Diễm C và ông Nguyễn Thanh T được tổ chức lễ cưới năm 2002, có đăng ký kết hôn ngày 23/8/2007, tại Ủy ban nhân dân xã Phước Tân Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.

[3] Theo bà Võ Thị Diễm C sau ngày cưới vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc được khoảng ba năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T thường xuyên uống rượu say về chửi bới, đánh đập, dùng bạo lực hâm dọa bà. Hai người không còn chung sống với nhau từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà C xin ly hôn với ông T. Đối với ông Nguyễn Thanh T hiện đang có mặt tại địa phương, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ các thông báo phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho mẹ của ông T để giao lại cho ông T nhưng đương sự vắng mặt không lý do, đã thể hiện ý thức không hợp tác của ông T. Xét thấy giữa hai đương sự đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà Võ Thị Diễm C được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về con chung: Nguyên đơn khai trình hai đương sự có với nhau hai người con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2002, đang sống với ông T và Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 15/12/2004, đang sống với bà C. Khi ly hôn bà C yêu cầu được giữ nguyên tình trạng nuôi con như hiện nay, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Xét thấy yêu cầu của bà C phù hợp với nguyện vọng của hai người con chung của hai đương sự nên chấp nhận. Ông T được tiếp tục giữ nuôi con tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2002; bà Võ Thị Diễm C được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 15/12/2004, đến tuổi trưởng thành. Các đương sự được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khai trình không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

[6] Về án phí: Bà Võ Thị Diễm C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

n cứ vào Điều 28, 35, 39, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

n cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Võ Thị Diễm C được ly hôn với ông Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung: Khi ly hôn bà Võ Thị Diễm C được tiếp tục giữ nuôi con chung tên Nguyễn Thị Diễm H, sinh ngày 15/12/2004; ông Nguyễn Thanh T được tiếp tục giữ nuôi con chung tên Nguyễn Thành N, sinh ngày 03/12/2002, đến tuổi trưởng thành. Hai đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau, được quyền đến thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Võ Thị Diễm C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà C đã nộp là 300.000 đồng sang khoản án phí phải thi hành, theo biên lai thu số 0002428 ngày 11 tháng 9 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà án tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

Trưng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


83
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 72/2018/HNGĐ-ST ngày 29/11/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:72/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về