Bản án 71/2019/DS-ST ngày 30/08/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN X - TỈNH LONG AN 

BẢN ÁN 71/2019/DS-ST NGÀY 30/08/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện X xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 221/2019/TLST-DS, ngày 11/7/2019. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2019/QĐXXST-DS, ngày 12/8/2019 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1984. Địa chỉ: Ấp 3, xã MA, huyện X, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C, sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp 4, xã HTP, thành phố TA, tỉnh Long An.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 và ông Hồ Thanh T, sinh năm 1975. Cùng địa chỉ: Ấp 2, xã MA, huyện X, tỉnh Long An.

(Bà P, bà H có mặt. Ông T, ông C vắng mặt.)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị P và lời trình bày của đại diện nguyên đơn ông Trần Văn C trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:

Bà H và ông T có vay của bà P hai khoản tiền như sau:

Khon vay thứ 1: Tháng 9/2015, ông Hồ Thanh T và bà Nguyễn Thị H có vay của bà P số tiền 40.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. Bà H, ông T có hẹn 03 tháng sau sẽ trả nhưng không thực hiện. Khi vay, bà H có làm giấy vay tiền do bà H viết. Bà P đã giao trực tiếp số tiền 40.000.000 đồng cho bà H. Mục đích vay tiền bà H nói để tô nhà.

Khon vay thứ 2: Bà P và bà H có thỏa thuận bà H, ông T sẽ bán cho bà P 8 mét đất chiều ngang mặt tiền tọa lạc tại ấp 3, xã MA, huyện X, tỉnh Long An. Bà P đã đưa cho bà H 230.000.000 đồng nhưng bà H, ông T không thực hiện việc sang tên cho bà P, nên bà P không mua đất nữa. Bà H, ông T cũng đồng ý. Tuy nhiên, bà H và ông T không chuyển nhượng đất cho bà P cũng không trả lại số tiền 230.000.000 đồng mà nói kẹt tiền đặt cọc đất, nên vay luôn số tiền 230.000.000 đồng vào tháng 11/2017, không thỏa thuận lãi suất. Khi vay tiền, bà H nói để đặt cọc tiền mua đất.

Khi vay có làm giấy tay do bà H viết. Bà H hẹn khi nào bà bán được đất thì sẽ trả tiền. Đến tháng 02/2018, bà có điện thoại cho ông T đòi tiền thì ông hứa 2 ngày sau sẽ trả. Bà H có trả cho bà P được 68.000.000 đồng, còn nợ bà P là 162.000.000 đồng. Bà H tiếp tục hẹn đến tháng 11/2018 sẽ trả. Bà H làm lại giấy vay tiền do bà H viết gút lại số tiền bà H, ông T còn nợ bà P tổng cộng là 202.000.000 đồng. Bà có điện thoại yêu cầu ông T trả tiền như đã hẹn thì lúc đó ông lại nói ngược là không có vay mượn tiền gì của bà P.

Nay đã quá hạn trả nợ, bà P khởi kiện yêu cầu bà H và ông T phải liên đới trả cho bà tổng số tiền vay là 202.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất.

* Bị đơn Nguyễn Thị H trình bày trong suốt quá trình giải quyết vụ án có nội dung như sau:

Bà thống nhất với lời trình bày của ông C, bà P về thời gian vay, số tiền vay của bà P nêu trên là đúng. Khi vay các bên không thỏa thuận lãi suất. Bà là người trực tiếp nhận tiền của bà P. Bà thừa nhận còn nợ bà P tiền vay của tháng 9/2015 là 40.000.000 đồng và tiền vay tháng 11/2017 là 230.000.000 đồng, đã trả cho bà P 68.000.000 đồng, còn nợ 202.000.000 đồng. Mục đích vay tiền để tô nhà và đặt cọc mua 01 ha đất tại xã MA. Ông T biết bà vay tiền của bà P mà nói không biết, nếu ông T nói vậy thì 01 ha đất đã mua là của riêng bà.

Việc bà vay tiền để sử dụng chung trong gia đình, chăm lo con cái, nhà cửa, mua đất. Ông T nói bà phe phái với các chị em của bà làm nợ khống là không có. Ông T đã nộp đơn ly hôn với bà tại Tòa án huyện X nên ông T phải liên đới với bà trả cho bà P tổng số tiền vay là 202.000.000 đồng.

* Bị đơn ông Hồ Thanh T trình bày ti bản tự khai ngày 26 và ngày 28/8/2019 có nội dung như sau:

Ông là thợ hồ từ năm 2000 cho đến nay, thu nhập bình quân 40.000.000 đồng/tháng. Ngoài ra, ông còn canh tác 02 ha ruộng thu nhập một vụ lúa khoảng 40.000.000 đồng, tích góp xây nhà năm 2014. Năm 2017, ông còn nhận chuyển nhượng 01 ha đất thửa số 236, tờ bản đồ số 6, tọa lạc xã MA, huyện X nên không có việc vay tiền ai xây nhà. Nhiều năm nay, bà H gây nợ trên 1 tỷ nhưng ông không biết nguyên nhân. Ông đã chuyển nhượng đất để trả nợ nhưng bà H tiếp tục gây nợ bằng việc chơi hụi, cầm xe, vay tiền xã hội đen. Bà H không chăm lo gia đình, con cái. Hâm dọa các con nếu không khai theo bà H thì bà bỏ đói, đuổi ra khỏi nhà. Ông và bà H nhiều lần cãi nhau. Cuộc sống gia đình ông ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Các khoản vay giữa chị em bà H là người trong gia đình, phe phái muốn ghi bao nhiêu mà không được. Ông đã bỏ sang nhà chị ruột sinh sống hơn 1 năm nay. Do đó, ông không đồng ý liên đới trả nợ với bà H. Ông T có nộp bảng tự khai của bà Hồ Thị Ngọc L là chi ruột của ông T có nội dung như ông T trình bày.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; quyền và nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo.

Về nội dung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận toàn bộ.

Tòa án tiến hành thụ lý vụ án, hòa giải nhưng không thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự. Căn cứ nơi cư trú của bị đơn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Long An được qui định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông T chỉ nộp bảng tự khai và vắng mặt suốt quá trình giải quyết vụ án, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để xét xử nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, nên tòa án giải quyết vắng mặt đương sự này theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà P và bà H thống nhất về quá trình diễn biến ca 2 lần vay tiền nêu trên là đúng. Bà H vay của bà P tổng cộng 270.000.000 đồng gồm khoản vay thứ nhất tháng 9/2015 là 40.000.000 đồng, khon vay thứ hai tháng 11/2017 là 230.000.000 đồng, đã trả 68.000.000 đồng nên còn nợ là 202.000.000 đồng. Bà H khẳng định bà chưa trả tiền cho bà P các khoản vay trên. Nay đã đến hạn trả nợ nhưng do khó khăn về kinh tế, làm ăn thua lỗ nên bà H chưa trả tiền cho bà P. Do đó, bà P khởi kiện yêu cầu bà H trả tiền là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.

Về lãi suất: Bà P không yêu cầu bà H trả lãi suất trên số tiền vay là sự tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và pháp luật và có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.

Về nghĩa vụ trả nợ hụi: Bà P yêu cầu ông T phải liên đới với bà H trả nợ vay cho bà vì việc vay tiền này ông T đều biết. Ông T không đồng ý liên đới trả nợ với bà H. Xét thấy, các khoản vay của bà H diễn ra từ năm 2015 đến nay khi hôn nhân giữa ông T và bà H vẫn đang tồn tại. Ông T không chứng minh được bà H sử dụng tiền vay này vào mục đích cá nhân. Theo Luật hôn nhân và gia đình đã quy định tại Điều 19 như sau "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...." đây vừa là quyền vừa là nghĩa vụ. Khi mối quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H vẫn đang tồn tại, ông T phải quan tâm đến việc của bà H làm để biết cuộc sống gia đình như thế nào mà có biện pháp giải quyết. Nay ông T cho rằng không biết nguyên nhân bà H gây nợ và nghi ngờ bà H sử dụng tiền vay vào mục đích cá nhân, phi pháp và cho rằng chị em bà H ghi nợ khống nên không đồng ý liên đới trả nợ là không có căn cứ chấp nhận.

Ngoài ra, tại biên bản lấy lời khai của anh Hồ Thanh Th ngày 08/8/2019 là con ruột sống cùng nhà của ông T, bà H là người đã trưởng thành, có nhận thức đầy đủ, hiểu rõ nhất hoàn cảnh gia đình đã xác định có thấy ông T nói chuyện với các chủ nợ, trong đó có bà P và ông T biết về việc chơi hụi, vay tiền của bà H. Ông T không chứng minh được việc bà H sử dụng tiền hụi vào mục đích cá nhân. Căn cứ Điều 27 Luật Hôn nhân gia đình 2014, ông T phải có trách nhiệm liên đới với bà H trả cho bà P số tiền 202.000.000 đồng.

Từ các phân tích trên, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P đối với bà H, ông T như lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X. Buộc bà H, ông T phải liên đới trả cho bà P số tiền 202.000.000 đồng.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà H, ông T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26 và các Điều 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;  Áp dụng điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Luật Hôn nhân và gia đình.

1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P đối với bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Thanh T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Thanh T phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền là 202.000.000 đồng.

Kể từ ngày bà Nguyễn Thị P có đơn yêu cầu thi hành án, thì bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Thanh T phải liên đới chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị H, ông Hồ Thanh T phải liên đới chịu 10.100.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.050.000 đồng theo biên lai thu số 0004578, ngày 11/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện X, tỉnh Long An.

3/ Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày niêm yết bản án.

4/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành dân sự án.


56
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 71/2019/DS-ST ngày 30/08/2019 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:71/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Vĩnh Hưng - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 30/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về