Bản án 71/2019/DS-ST ngày 11/10/2019 tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

BẢN ÁN 71/2019/DS-ST NGÀY 11/10/2019 TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2019/TLST-DS ngày 29-7-2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2019/QĐXXST-DS ngày 18-9-2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Đặng Thị TV; địa chỉ: Thôn T, xã NA, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi;

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị P; địa chỉ: Thôn C, xã NB, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện ngày 02-7-2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đặng Thị TV trình bày:

Trong tháng 10 năm 2016 (âm lịch) bà có cho bà Nguyễn Thị P mượn số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Từ tháng 02 đến tháng 6 năm 2018 (âm lịch) bà P trả cho bà nhiều lần với tổng số tiền gốc là 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng), số tiền còn lại là 31.000.000 đồng (ba mươi mốt triệu đồng) bà P hứa trả hằng tháng từ 500.000 đồng đến 700.000 đồng cho đến khi hết nợ theo các “Giấy nhận nợ” ngày 30-8-2018 và “Giấy hẹn trả nợ” ngày 12-9- 2018 mà bà đã nộp cho Tòa án. Tuy nhiên, sau đó bà P không trả nợ theo đúng cam kết, mặc dù bà đã nhiều lần yêu cầu bà P thanh toán nợ.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P trả cho bà số tiền nợ gốc 31.000.000 đồng (ba mươi mốt triệu đồng); bà không yêu cầu tính lãi.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị P đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn bà Đặng Thị TV vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt; Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị P vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ có Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Bà Nguyễn Thị P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng không đến Tòa án làm việc, hòa giải, xét xử và không có văn bản trình bày ý kiến phản đối những tình tiết, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đưa ra, nên Tòa án căn cứ vào khoản 4 Điều 91, 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ.

[2.2] Căn cứ vào các “Giấy nhận nợ” ngày 30-8-2018 và “Giấy hẹn trả nợ” ngày 12-9-2018 mà bà TV cung cấp thể hiện bà P có vay của bà TV số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), đã trả 19.000.000 đồng nợ gốc, còn lại 31.000.000 đồng nợ gốc chưa trả, bà P cam kết mỗi tháng trả 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) đến 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng) nhưng bà P không trả nợ đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng vay tài sản.

Hội đồng xét xử xác định các tình tiết như bà TV trình bày về thời điểm, số tiền, thời hạn cam kết trả nợ và quá trình vi phạm nghĩa vụ của bà P là sự thật. Do đó, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà TV, buộc bà P trả cho bà TV số tiền 31.000.000 đồng (ba mươi mốt triệu đồng).

[2.3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ nên bà Nguyễn Thị P phải chịu 1.550.000 đồng (31.000.000 đồng x 5%) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; hoàn trả lại tạm ứng án phí cho bà TV.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 91, 92, 144, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên xử:

1. Buộc bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả cho bà Đặng Thị TV số tiền 31.000.000 đồng (ba mươi mốt triệu đồng).

2. Bà Nguyễn Thị P phải chịu 1.550.000 đồng (một triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho bà Đặng Thị TV số tiền tạm ứng án phí 750.000 đồng (bảy trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/0001418 ngày 23-7-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.

4. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.


19
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 71/2019/DS-ST ngày 11/10/2019 tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:71/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Quảng Ngãi - Quảng Ngãi
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:11/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về