Bản án 70/2017/HSST ngày 06/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 70/2017/HSST NGÀY 06/07/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 06 tháng 7 năm 2017 tại Toà án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 74/2017/HSST ngày 12 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C- sinh năm 1995; Tại: Hậu Giang . (Có mặt)

Nơi ĐKNKTT: Ấp B Nh, xã L Th, huyện G R, tỉnh Kiên Giang.

Chổ ở: Ấp G D, xã G D, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang.

Trình độ văn hóa: 4/12 Nghề nghiệp: Làm hồ

Dân Tộc: Kinh Quốc Tịch: Việt Nam Tôn giáo: không Con ông: Nguyễn Văn T (còn sống), và bà: Trần Thị G (còn sống). Em ruột có 02 người, lớn 06 tuổi, nhỏ 02 tuổi.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị tạm giam từ ngày 13/4/2017 đến nay

*Người bị hại: Chị Trần Thị Kim Ph, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp G D, xã G G, huyện P Q, tỉnh Kiên Giang.

 (Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt)

NHẬN THẤY

Bị cáo Nguyễn Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q truy tố về hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 11/04/2017, sau khi uống rượu về Nguyễn Văn C đi bộ ngang qua nhà chị Trần Thị Kim Ph tại ấp G D, xã G D, huyện P Q, thấy nhà không đóng cửa, C đi vào nhà thấy chị Ph đang ngủ trưa, trên đầu giường có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S và 01 cái điện thoại di động hiệu OPPO FIS, C đến lấy 02 cái điện thoại đi ra khỏi nhà. Lúc này, chị Ph cũng vừa thức dậy nhìn ra ngoài thấy C cầm 02 cái điện thoại của mình nên truy hô lên, C bỏ chạy, mọi người đuổi theo bắt lại được, cùng tang vật.

*Tang vật thu giữ:

- 01 cái điện thoại hiệu Iphone 6S và 01 cái điện thoại hiệu OPPO FIS C (đã trao cho chủ sở hữu).

Tại bản cáo trạng số 80/KSĐT-KT ngày 09 tháng 6 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện P Q đã truy tố Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS; điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS; Điều 33 BLHS xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

*Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm đề nghị miễn xét.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của bị cáo, kiểm sát viên .

XÉT THẤY

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện P Q truy tố.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐG ngày 25/4/2017 của Hội đồng định giá tài sản huyện P Q kết luận tài sản. 02 cái điện thoại di động của chị Trần Thị Kim Ph có tổng giá trị 9.500.000đ.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã đủ yếu tố kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự quy định:

 “ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đọat hoặc đã bị kết án về tội chiếm đọat tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và gây hoang mang trong dư luận quần chúng nhân dân. Bị cáo là người thành niên có đầy đủ sức khỏe có việc làm, nhưng với bản chất lười lao động, lại muốn có tiền để tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của người khác bán để có tiền tiêu xài.

Hành vi của bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, bị cáo cũng phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 BLHS, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Trần Thị Kim Ph đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

*Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33 BLHS

Xử phạt: Nguyễn Văn C 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/4/2017.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết nơi cư trú để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.


57
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Văn bản được căn cứ
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 70/2017/HSST ngày 06/07/2017 về tội trộm cắp tài sản

      Số hiệu:70/2017/HSST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Quốc - Kiên Giang
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:06/07/2017
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về