Bản án 69/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 69/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 26 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 126/2019/TLST-HNGĐ ngày 14/3/2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/4/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Hồng X, sinh năm 1984. Cư trú tại: Ấp N, xã N1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lăng Thanh M, sinh năm 1980. Cư trú tại: Ấp N, xã N1, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Chị Mai Hồng X và anh Lăng Thanh M chung sống vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cự cãi mặc dù đã được gia đình hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Do đó, các đương sự xác định không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng.

Quá trình chung sống có 02 người con tên Lăng Thị Mai T, sinh ngày 20/8/2001 và Lăng Huỳnh Nh, sinh ngày 22/7/2007 do chị X đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn các đương sự thỏa thuận để chị X tiếp tục nuôi các cháu và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về các vấn đề khác: Các đương sự xác định không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Chị Mai Hồng X và anh Lăng Thanh M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này là đúng quy định pháp luật.

[2] Chị X và anh M chung sống vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên cự cãi mặc dù đã được gia đình hòa giải hàn gắn nhưng không thành, các đương sự xác định không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng.

Xét yêu cầu của các đương sự thấy rằng: Theo khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình thì “Nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của vợ chồng…”.

Do đó, các đương sự yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng phù hợp với khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Các đương sự tự thỏa thuận việc nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[4] Về các vấn đề khác: Các đương sự xác định không có nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị X phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Mai Hồng X và anh Lăng Thanh M.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị X phải chịu trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009158 ngày 14/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi (chị X đã nộp xong).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:69/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về