Bản án 69/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KHÁNH HÒA

 BẢN ÁN 69/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 22 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK - tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 132/2019/TLST-HNGĐ ngày 01/7/2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/10/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: anh Đỗ Vũ Kỳ V - sinh năm 1997

Trú tại: thôn M - xã L - huyện DK - Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: chị Nguyễn Thị Tuyết D - sinh năm 1996

Trú tại: thôn Đ - xã L - huyện DK - Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 06/6/2019, bản tự khai ngày 17/7/2019, nguyên đơn anh Đỗ Vũ Kỳ V trình bày: năm 2014, anh và chị Nguyễn Thị Tuyết D tự nguyện yêu thương nhau về sống chung và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L năm 2018. Quá trình sống chung, vợ chồng thường nảy sinh mâu thuẫn do chị D không chung thủy. Từ tháng 5/2019, anh và chị D đã không còn sống chung với nhau. Đến nay, anh xác định không còn tình cảm với chị D nên anh yêu cầu được ly hôn với chị D. Con chung: có 01 con chung là Đỗ Nguyễn Gia B (sinh ngày 17/02/2015). Sau khi ly hôn, anh đồng ý giao con cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng. Tài sản chung và nợ chung: không có.

Chị D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh V vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị D; con chung: sau khi ly hôn, anh giao con Đỗ Nguyễn Gia B cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng; tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn chị D vắng mặt lần thứ 2.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - Khánh Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự trong vụ án: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 70 và 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã vi phạm quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh V về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: chị D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị D.

[2] Quan hệ hôn nhân: anh V và chị D sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L theo giấy chứng nhận kết hôn số 19/2018 ngày 17/9/2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Anh V cho rằng quá trình sống chung, chị D có người khác, không chung thủy với anh. Anh xác định hiện nay anh không còn tình cảm với chị D. Chị D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Điều này chứng tỏ chị D đã không còn quan tâm đến hôn nhân giữa chị và anh V. Do đó, có thể xác định tình cảm yêu thương vợ chồng giữa anh V và chị D đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh V.

[3] Con chung: anh V xác định anh và chị D có 01 con chung Đỗ Nguyễn Gia B (sinh ngày 17/02/2015). Sau khi ly hôn, anh giao con cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đ/tháng. Hiện nay cháu B đang ở với chị D nên cũng cần để chị D tiếp tục nuôi cháu B và anh V cấp dưỡng nuôi con.

[4] Tài sản chung và nợ chung: không có.

[5] Về án phí: anh V nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn anh Đỗ Vũ Kỳ V được ly hôn với chị Nguyễn Thị Tuyết D.

Về con chung: Giao con chung Đỗ Nguyễn Gia B (sinh ngày 17/02/2015) cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh V cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Thời gian bắt đầu cấp dưỡng là tháng 12/2019.

Anh V có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, anh V, chị D đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung và nợ chung: không có.

Quy định chung: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

2. Về án phí: anh Đỗ Vũ Kỳ V nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0001555 ngày 01/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện DK - Khánh Hòa. Anh V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh V còn phải tiếp tục nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2019/HNGĐ-ST ngày 22/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:69/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về