Bản án 69/2019/DS-ST ngày 13/03/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 69/2019/DS-ST NGÀY 13/03/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Trong ngày 13 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 54/2018/TLST-DS ngày 14 tháng 12 năm 2018 về “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 302/2019/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1975; Địa chỉ: 265/4 ấp TB, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim R, sinh năm 1968 và ông Trần Văn H, sinh năm 1966; Cùng địa chỉ: 184/3 ấp TB, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre.

Ông H ủy quyền cho bà R tham gia tố tụng theo văn bản ủy quyền ngày 15-02-2019.

Tất cả cùng có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

Vào năm 2016 chị có tham gia chơi hụi do bà R làm chủ hụi, hụi khui ngày 15/5/2016 (âm lịch), hụi 1.000.000 đồng, gồm 27 hụi viên, hụi có lãi, chị tham gia một phần hụi, chị đóng hụi được 17 tháng thì bà R úp hụi và chị chưa được nhận tiền hụi, do chị thiếu bà R 1.000.000 đồng ở dây hụi khác nên bà R còn nợ chị 16.000.000 đồng. Sau đó bà R có trả cho chị được 1.500.000 đồng nên còn nợ số tiền 14.500.000 đồng.

Số tiền chị chơi hụi là tiền riêng của chị, bà R làm chủ hụi là để lấy tiền đầu thảo tạo thu nhập cho gia đình nên chị yêu cầu ông H và chồng bà R phải có nghĩa vụ cùng bà R trả cho chị số tiền hụi 14.500.000 đồng, yêu cầu trả một lần, không yêu cầu tính lãi.

Theo bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại tòa bị đơn đồng thời được bị đơn Trần Văn H ủy quyền bà Nguyễn Thị Kim R trình bày:

Bà thừa nhận vào năm 2016 bà làm chủ hụi và có chị Nguyễn Thị Ngọc T tham gia chơi hụi, hụi 1.000.000 đồng, hụi có lãi, thừa nhận khi bà úp hụi thì chị T đóng được 17 tháng, do chị T thiếu bà 1.000.000 đồng ở dây hụi khác nên bà còn nợ chị T 16.000.000 đồng. Sau đó bà có trả cho chị T được 1.500.000 đồng nên còn nợ chị T 14.500.000 đồng.

Việc bà chơi hụi là để tạo thu nhập cho gia đình, chồng bà là Trần Văn H cũng đồng ý đây là nợ chung của vợ chồng.

Do hoàn cảnh hiện nay của vợ chồng bà khó khăn, nhiều người không đóng hụi cho bà nên bà không có khả năng trả một lần cho chị T số tiền 14.500.000 đồng vì vậy xin trả dần mỗi tháng 200.000 đồng đến 300.000 đồng cho đến khi hết số nợ 14.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị Kim R và Trần Văn H trả tiền nợ hụi nên đây là “tranh chấp hợp đồng góp hụi” theo quy định tại khoản 3 Điều 26

Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn Nguyễn Thị Kim R và Trần Văn H cư trú tại số nhà 184/3 ấp TB, xã TH, huyện P, tỉnh Bến Tre; theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú.

[3] Về áp dụng pháp luật nội dung: chị T và bà R thống nhất thời gian chơi hụi vào năm 2016 nên áp dụng quy định của Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết.

[4] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T và bị đơn Nguyễn Thị Kim R thống nhất được chị T có tham gia chơi hụi do bà R làm chủ hụi, hợp đồng góp hụi giữa chị T và bà R được giao kết trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng, không ai bị lừa dối hoặc bị ép buộc; cả hai đều có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự nên được xem là hợp đồng hợp pháp. Chị T và bà R thống nhất về số tiền nợ hụi bà R còn nợ chị T là 14.500.000 đồng. Bà R và ông H xác nhận số tiền nợ hụi là khoản nợ chung của hai vợ chồng và cùng đồng ý liên đới trả cho chị T số tiền 14.500.000 đồng. Vì vậy, chị T yêu cầu bà R và ông H liên đới trả số tiền nợ hụi 14.500.000 đồng là có căn cứ phù hợp với Điều 479 Bộ luật dân sự 2005, Điều 27 Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, buộc bà R và ông H có trách nhiệm liên đới trả cho chị T số tiền 14.500.000 đồng.

[5] Bà R và ông H đề nghị được trả dần mỗi tháng 200.000 đồng đến 300.000 đồng cho đến khi hết số nợ 14.500.000 đồng vì hoàn cảnh của bà R và ông H khó khăn. Xét thấy, bà R là chủ hụi có nghĩa vụ gom tiền hụi và giao tiền hụi cho các hụi viên nhưng sau khi các hụi viên đóng hụi bà đã úp hụi là không thực hiện đúng nghĩa vụ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của chị T và yêu cầu trả dần của bà R cũng không được chị T đồng ý nên buộc bà R và ông H phải trả một lần hết số tiền 14.500.000 đồng.

[6] Về án phí: yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015. Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Nghị định số 144/2006/NĐ-CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Căn cứ Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 26, Điều 27, điểm b Tiểu mục 1.3 Mục 1 Phần II (danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Ngọc T. Buộc bà Nguyễn Thị Kim R và ông Trần Văn H có trách nhiệm liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Ngọc T số tiền 14.500.000 (mười bốn triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, có đơn yêu cầu của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Nguyễn Thị Kim R và ông Trần Văn H có trách nhiệm liên đới nộp 725.000 (bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng.

Chị Nguyễn Thị Ngọc T được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 375.000 (ba trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0021558 ngày 14 tháng 12 năm 2018.

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


48
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về