Bản án 69/2018/HSST ngày 14/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 69/2018/HSST NGÀY 14/11/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (số 1400 đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh) đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2018/HSST ngày 26 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H; giới tính: Nam; sinh năm: 1985 tại: Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh D; nơi cư trú: Không cố định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Sán Dìu; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 2/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964 và bà Lưu Thị B, sinh năm 1960; bị cáo là con lớn trong gia đình có 03 anh em; bị cáo có vợ là Diệp Thị C, sinh năm: 1985; có hai con tên: Nguyễn Thị T, sinh năm 2006 và Nguyễn Văn Q, sinh năm 2007; nhân thân: Ngày 26/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 06 tháng tù về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số 10/2014/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí dân sự.

Tiền sự: Ngày 25/11/2017, bị Công an phường Phước Long B, Quận 9 ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/7/2018, có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa: Luật sư Lê Thị Ngọc N, sinh năm 1977 – Luật sư của Văn phòng Luật sư Trịnh Bá Thân thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Bị hại: Anh Sơn L; sinh năm: 1993; địa chỉ: Số 207 đường A, Khu phố B, phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 02 giờ ngày 19/7/2018, Nguyễn Văn H đi bộ từ gầm cầu Sài Gòn theo hướng ra đường Song Hành Xa Lộ Hà Nội – Nguyễn Hoàng – Nguyễn Thị Định tìm tài sản sơ hở để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 04 giờ 15 phút cùng ngày khi H đi bộ tới cạnh quán Bar Oxy tại địa chỉ: Số 207 Nguyễn Thị Định, phường Bình Trưng Tây, Quận 2. Lúc này H phát hiện cạnh quán có một hẻm nhỏ nhưng không đóng cửa cổng. Liền đó H đi bộ vào hẻm và lại các phòng trọ thấy có 02 xe mô tô tay ga dựng trước cửa các phòng trọ và không khóa cổ, không người trông coi. Thấy vậy H tiếp tục bước lại xe mô tô biển số 64D1-348.93 của anh Sơn L rồi lén lút dẫn ra ngoài được khoảng 02 mét thì lúc này anh Đỗ Ngọc T là bạn của anh Sơn L đi về phát hiện liền tri hô, khống chế bắt giữ quả tang H cùng tang vật giao Công an phường Bình Trưng Tây, Quận 2 xử lý. Tại Công an phường Bình Trưng Tây và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh thì Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Vật chứng thu giữ: 01(một) đoản bằng kim loại có dạng chữ L dài 16 cm có hai đầu tròn lục giác, 01(một) đoản bằng kim loại dài 08 cm có một đầu lục giác và một đầu dẹp, 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu bạc, 01 (một) ví nam bên trong có số tiền là 728.000 đồng và 01 (một) chứng minh nhân dân tên Lê T Tuấn, 01(một) xe mô tô hiệu Airblade biển số 64D1-348.93 (Số máy: IF63E1155172; số khung: 6300FZ628520). Theo Bản kết luận định giá tài sản số 208/HĐĐGTS-TCKH ngày 01/08/2018 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân Quận 2 thì xe mô tô hiệu Airblade biển số 64D1- 348.93 đã qua sử dụng có trị giá 39.000.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 2 đã trả lại tài sản trên cho anh Sơn L.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Sơn L đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu đòi bồi thường gì.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với các kết luận giám định và không có ý kiến gì khác nhưng không thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên.

Bản Cáo trạng số 62/CT-VKSQ2 ngày 24 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Mặc dù tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Hải không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhưng căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai nhân chứng, lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ và lời khai trước đây của bị cáo có sự chứng kiến của luật sư bào chữa và được ghi âm ghi hình đúng luật định thì bị cáo vẫn thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Do vậy việc Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan sai. Việc bị cáo cho rằng đang đêm khi trên người bị cáo có cầm 02 đoản để mở khóa xe nhưng bị cáo chỉ đi vào phòng trọ của người bị hại để ngủ là không có căn cứ và không phù hợp với các lời khai trước đây. Bản thân bị cáo và người bị hại không quen biết nhau. Bị cáo khai thường ngủ lang thang ngoài đường, công viên và thường bị bảo vệ công viên đuổi không cho ngủ nhưng bị cáo lại tự ý mở cổng đi vào nhà người lạ chỉ để ngủ là không có căn cứ. Bản thân bị cáo đang có một tiền sự về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng lại tiếp tục phạm tội điều đó chứng tỏ ý thức tự cải tạo bản thân của bị cáo còn hạn chế. Bị cáo phạm tội không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng tại phiên tòa bị cáo vẫn quanh co chối tội. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51; Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đây là vụ án do Nguyễn Văn H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01(một) xe mô tô hiệu Airblade biển số 64D1-348.93 (Số máy: IF63E1155172; số khung: 6300FZ628520). Theo Bản kết luận định giá tài sản số 208/HĐĐGTS-TCKH ngày 01/08/2018 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân Quận 2 thì xe mô tô hiệu Airblade biển số 64D1- 348.93 đã qua sử dụng có trị giá 39.000.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và cần phải xử lý nghiêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 2 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Người bào chữa cho bị cáo H là Luật sư Lê Thị Ngọc N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có bài bào chữa: Luật sư thống nhất về tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đưa ra, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm một số tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo: Bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo tham gia tranh luận: Bị cáo vào đi ngang qua hẻm thấy không khóa cửa nên chỉ định ghé vào để ngủ, bị cáo chưa đụng vào chiếc xe, bị cáo không có ý định trộm cắp chiếc xe. Việc bị cáo khai nhận rằng đã dắt xe ra cách 02 mét rồi bị bắt là do bị cáo không biết đọc, không biết viết nên bị Cán bộ Công an phường ép buộc bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là oan cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không phạm tội, bị cáo bị oan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi:

Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận vào 04 giờ 15 phút ngày 19/7/2018 đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 (một) xe mô tô hiệu Airblade biển số 64D1-348.93 (Số máy: IF63E1155172; số khung: 6300FZ628520). Theo Bản kết luận định giá tài sản số 208/HĐĐGTS- TCKH ngày 01/08/2018 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân Quận 2 thì xe mô tô hiệu Airblade biển số 64D1-348.93 đã qua sử dụng có trị giá 39.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Hải không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai nhân chứng, lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ và lời khai trước đây của bị cáo có sự chứng kiến của luật sư bào chữa và được ghi âm ghi hình thì bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của làm chứng, người bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần xử phạt bị cáo mức án tù nghiêm khắc, không chỉ để cải tạo giáo dục bị cáo mà còn để răn đe những người khác, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:

Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khác. Xét trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo đã không thành khẩn khai báo mà quanh co chối tội, bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội cố ý làm hư hỏng tài sản và hiện đang có tiền sự cũng về hành vi trộm cắp tài sản nên không được áp dụng tiết giảm nhẹ theo quy định tại tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bản thân bị cáo là người dân tộc nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên cần áp dụng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo:

Luật sư Lê Thị Ngọc N đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm một số tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Như đã nhận định ở phần trên, tại phiên tòa bị cáo H đã không thành khẩn khai báo mà quanh co chối tội, bản thân bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội cố ý làm hư hỏng tài sản và hiện đang có tiền sự cũng về hành vi trộm cắp tài sản nên không được áp dụng tiết giảm nhẹ theo quy định tại tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử chấp nhận một phần lập luận của Luật sư bào chữa cho bị cáo về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Về vật chứng:

+ Đối với 01 (một) đoản bằng kim loại có dạng chữ L dài 16 cm có hai đầu tròn lục giác, 01 (một) đoản bằng kim loại dài 08 cm có một đầu lục giác và một đầu dẹp: Xét các tài sản này không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu bạc và 01 (một) ví nam bên trong có số tiền là 728.000 đồng: Xét đây là tài sản của bị cáo và không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo H;

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Airblade biển số 64D1-348.93 đã qua sử dụng có trị giá 39.000.000 đồng: Xét đây là tài sản trộm cắp nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 2 đã trả lại tài sản trên cho bị hại là anh Sơn L là đúng theo quy định của pháp luật.

+ Đối với 01 (một) chứng minh nhân dân mang tên Lê T Tuấn, sinh năm: 1986; hộ khẩu thường trú: Phú Lương, Hòa Tân Đông, Đông Hòa, Phú Yên.

Quá trình điều tra H khai nhận trong qua trình đi nhặt ve chai đã nhặt được chứng minh trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 2 đã ủy thác điều tra đến Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên để lấy lời khai anh Tuấn và tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Sơn L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo pH nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2018.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

- Trả lại cho bị cáo H: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu bạc, Model RM 1172, 01 (một) ví nam và số tiền là 728.000 đồng (Theo Biên lai thu số 8185 ngày 13/11/2018).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoản bằng kim loại có dạng chữ L dài 16 cm có hai đầu tròn lục giác, 01 (một) đoản bằng kim loại dài 08 cm có một đầu lục giác và một đầu dẹp (loại để bẻ khóa xe).

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKSQ2 ngày 08/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ bản án./.


46
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2018/HSST ngày 14/11/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:69/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 2 (cũ) - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về