Bản án 69/2017/HSST ngày 25/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 69/2017/HSST NGÀY 25/12/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 12 năm 2017, tại nhà văn hóa Khu A, thị trấn L, huyện Y, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2017/HSST, ngày 01 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2017/HSST-QĐ ngày 14 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Họ và tên Trương Duy G - Sinh năm 1985 tại huyện Y, tỉnh Nam Định; trú tại: Khu A, thị trấn L, huyện Y, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; con ông Trương Duy M và bà Vũ Thị T; chưa có vợ và con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Tại Bản án số 26/2006/HSST ngày 09/3/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản” ngày 30/8/2010 được đặc xá; Ngày 18/6/2015 bị Công an huyện Y, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh nhau; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/11/2017 đến ngày 16/11/2017 chuyển tạm giam cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 10/11/2017, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực thôn Bắc đường 12, xã X, huyện Y, tỉnh Nam Định phát hiện Trương Duy G có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra thì G vứt 04 gói nilon màu trắng xuống đất chỗ G đang đứng; Tổ công tác tiến hành kiểm tra bên trong 04 gói nilon đều có chất bột tinh thể màu trắng. G khai đó là ma túy tổng hợp để sử dụng cho bản thân, niêm phong ký hiệu (M). Tại nơi ở, G đã tự nguyện giao nộp cho Tổ công tác 01bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa 13 gói ma túy tổng hợp, niêm phong ký hiệu (M1), G khai cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của G tại thôn B đường 12, xã X, huyện Y, tỉnh Nam Định; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu ghi; 1.000.000đ; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ BKS 29M9-3624. Khám xét khẩn cấp tại nơi G đăng ký hộ khẩu thường trú, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định không thu giữ được gì.

Tại kết luận giám định số 865/GĐKTHS, ngày 10/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M và M1 gửi giám định đều là chất ma túy. Loại chất ma túy: Methamphetamine. Tổng trọng lượng (Tổng khối lượng) mẫu M: 1,151 gam. Tổng trọng lượng (Tổng khối lượng) mẫu M1: 2,983 gam.

Methamphetamine nằm trong danh mục II, số thứ tự 67, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Quá trình điều tra: Trương Duy G khai nhận nguồn gốc ma túy đã mua của một người đàn ông ở thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Do không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người bán ma túy, nên Công an huyện Y không thể điều tra, xử lý. Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 1.000.000đ không liên quan đến vụ án, đề nghị trả lại cho bị can. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ BKS 29M9-3624 không phải là vật chứng của vụ án, chưa có giấy tờ chứng minh nên Công an huyện Y tách ra, xác minh giải quyết sau.

Bản Cáo trạng số 63/Ctr-VKS, ngày 29/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định truy tố bị can Trương Duy G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Trương Duy G khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản Cáo trạng số 63/Ctr-VKS, ngày 29/11/2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự tuyên bố Trương Duy G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 36 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, nên đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật hình sự; Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 1.000.000đ không liên quan đến vụ án. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ BKS 29M9-3624 không phải là vật chứng của vụ án, chưa có giấy tờ chứng minh nên Công an huyện Ý Yên tách ra, xác minh gải quyết sau.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 10/11/2017, tại khu vực thôn B đường 12, xã X , huyện Y, tỉnh Nam Định. Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định bắt quả tang Trương Duy G có hành vi tàng trữ trái phép 4,134 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội; hủy hoại nhân cách của con người, là nguyên nhân lây truyền nhiều căn bệnh nguy hiểm; do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đã gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Nam Định truy tố là đúng pháp luật. Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng các quy định có lợi cho bị cáo tại Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 1.000.000đ không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đỏ BKS 29M9-3624 không phải là vật chứng, chưa có giấy tờ chứng minh nên Công an huyện Ý Yên tách ra, xác minh gải quyết sau, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật hình sự; Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy hoàn lại sau giám định.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 231, 233 và 234 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trương Duy G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trương Duy G 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ 10/11/2017.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 41 của Bộ luật hình sự 1999; Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 4,074 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 1.000.000đ theo (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Y với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y ngày 05/12/2017).

4. Án phí: Bị cáo Trương Duy G phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án.

Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

211
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 69/2017/HSST ngày 25/12/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:69/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện ý Yên - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về