Bản án 69/2017/HSST ngày 07/11/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 69/2017/HSST NGÀY 07/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân quận Ô Môn, thành  phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2017/HSST ngày 13 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Hoàng N, sinh năm 1990.

Nơi đăng ký hộ khẩu: Khu vực Thới H, phường Thới An Đ, quận Bình T, thành phố C T.

Nghề nghiệp: Chăn nuôi; Trình độ văn hóa: 09/12; Quốc tịch: Việt N;

Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không;

Cha: Trần Văn N, sinh năm 1964 (sống); Mẹ: Phan Thị Tám E, sinh năm 1972 (sống); Anh chị em ruột: có 01 người em sinh năm 1992;

Tiền sự: Ngày 01/02/2013 Công an phường Thới An Đông, quận BìnhThủy ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Hoàng N số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.

Tiền án: không.

Bị cáo bị bắt vào ngày 01/8/2017. Đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

-  Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan:

1) Trần Văn N, sinh năm 1964.

2) Phan Thị Tám E, sinh năm 1972.

Cùng địa chỉ: Khu vực Thới H, phường Thới An Đ, quận Bình T, thành phố C T. (có mặt tại phiên tòa)

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Hoàng N bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 01/8/2017 Công an phường Phước Th, quận Ô M nhận được tin báo của quần chúng tại nhà trọ Hoa Hồng thuộc khu vực Thới Ngươn B, phường Phước Th, quận Ô M, có đối tượng Trần Hoàng N, sinh năm 1990 đang thuê phòng ở nhà trọ Hoa Hồng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an phường Phước Th kiểm tra phòng trọ số 6, nhà trọ Hoa Hồng phát hiện 01 gói thuốc lá Jet để trên bàn ở trong phòng trọ, bên trong gói thuốc lá có 01 gói ni long màu trắng có chứa các hạt tinh thể dạng rắn màu trắng của Trần Hoàng N.

Vật chứng thu giữ: 01 gói ni long màu trắng có chứa các hạt tinh thể dạng rắn màu trắng;  01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, đỏ, số seri 351869074655302.

Quá trình điều tra chứng minh được vào ngày 30/7/2017 Trần Hoàng N gặp người thanh niên tên Hoàng (không biết họ tên và địa chỉ) ở quán cà phê tại phường Trà Nóc, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, N nói với Hoàng đổi con gà trống của N lấy ma túy đá của Hoàng để sử dụng thì Hoàng đồng ý và hẹn địa điểm là Quốc lộ 91B gần chùa Phước An thuộc phường Thới An Đông, quận Bình Thủy gần nhà của N để giao dịch. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, N đi bộ đến gặp Hoàng để đổi con gà trống lấy ma túy. Sau đó, đến khoảng 20 giờ, ngày 31/7/2017 Trần Hoàng N cùng với Danh Hông nhà ở Kiên Giang (không biết địa chỉ cụ thể) đi đến nhà trọ Hoa Hồng để thuê phòng trọ số 5 nghỉ qua đêm, do trước đó N hẹn gặp Danh Hông để cùng với Danh Hông đem 03 con gà trống đến Kiên Giang để bán nhưng không đi nữa nên đến khoảng 04 giờ ngày 01/8/2017 Danh Hông đi về nhà ở Kiên Giang, còn N ở lại nhà trọ và chuyển qua phòng số 6 nằm xem ti vi và lấy ma túy đá ra sử dụng, số ma túy đá còn lại để trên bàn. Khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, lực lượng Công an phường Phước Th, quận Ô M kiểm tra hành chính phòng trọ số 6 thu giữ 01 gói ni long màu trắng bên trong có chứa ma túy đá của N. Số ma túy Công an thu giữ là của N, N dùng gà trống đổi lấy ma túy với mục đích để sử dụng.

Tại Kết luận giám định số 459/KL – PC54 ngày 04/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: tinh thể không màu trong gói ni long được niêm phong có chữ ký ghi tên Trần Hoàng N là ma túy, có trọng lượng là 2.0629 gram, loại Methamphetamine.

Đối với vật chứng:

-01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, đỏ, số seri 351869074655302, không rõ chất lượng bên trong.

- 01 mẫu tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định được niêm phong có chữ ký ghi tên Trần Hoàng N, là ma túy, có trọng lượng là 2,0629 gram, loại Methamphetamine. Trọng lượng sau khi giám định còn lại là 2,0014 gram.

Đối với 03 con gà trống là vật chứng cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn xác minh làm rõ là của ông Trần Văn N. Đăng ký thường trú khu vực Thới H, phường Thới An Đ, quận Bình T, thành phố C T là cha của bị cáo N, ông Năm nhờ bị cáo bán dùm. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn đã ra quyết định xử lý vật chứng số 28 ngày 15/8/2017 trả lại cho ông Trần Văn N.

Riêng đối tượng tên Hoàng mà Trần Hoàng N khai đã bán ma túy cho N, Cơ quan điều tra chưa xác định được, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Tại Bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 12 tháng 10 năm 2017 Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đã truy tố Trần Hoàng N có hành vi phạm tội và lý lịch như trên ra trước Tòa án nhân dân quận Ô Môn để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Hoàng N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã nêu trong cáo trạng.

Đồng thời phân tích những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo N mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41; 42 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mẫu tinh thể không màu trong gói nilon gửi giám định được niêm phong có chữ ký ghi tên Trần Hoàng N, là ma túy, có trọng lượng 2,0629 gram, loại Methamphetamine. Trọng lượng sau khi giám định còn lại là 2,0014 gram; Trả lại bà Phạm Thị Tám Em 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, đỏ, số seri 351869074655302.

Riêng đối tượng tên Hoàng mà Trần Hoàng N khai đã bán ma túy cho N, Cơ quan điều tra chưa xác định được, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Hành vi tràng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Trần Hoàng N tại phòng số 06 nhà trọ Hoa Hồng, thuộc khu vực Thới Ngươn B, phường Phước Th, quận Ô M, thành phố Cần Thơ, bị cáo bị Công an phường Phước Th, quận Ô M, thành phố Cần Thơ bắt quả tang ngày 01/8/2017.

Theo Kết luận giám định số 459/KL – PC54 ngày 04/8/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Cần Thơ kết luận: tinh thể không màu trong gói ni long được niêm phong có chữ ký ghi tên Trần Hoàng N là ma túy, có trọng lượng là 2.0629 gram, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ. Việc tàng trữ Methamphetamine với trọng lượng 2.0629 gram của bị cáo Trần Hoàng N vượt mức định lượng, đây là cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân Tối cao - Bộ tư pháp. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố bị cáo N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự là có cơ sở đúng với quy định pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét thấy, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo N đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh và trật tự công cộng. Nhà nước thống nhất quản lý chất ma tuý nhằm đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của xã hội. Đồng thời, Nhà nước cũng nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo biết rõ tác hại ma túy, bị cáo biết rõ tàng trữ ma túy trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng vì muốn thoả mãn cơn nghiện của bản thân, bị cáo bất chấp các quy định của pháp luật, nên bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng.

Bản thân bị cáo có tiền sự, nay lại tiếp tục phạm tội nên phải xử lý nghiêm bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cách xa ma tuý và làm lại cuộc đời.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo luôn tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 mẫu tinh thể không màu trong gói niêm phong gửi giám định có chữ ký ghi tên Trần Hoàng N, là ma túy có trọng lượng 2,0629 gram, loại Methemphetamine. Trọng lượng sau khi giám định còn lại 2,0014 gram Methamphetamine.

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, đỏ, số seri 351869074655302 là của bà Phan Thị Tám E cho bị cáo để liên lạc với gia đình, là tài sản hợp pháp của bà Tám Em, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bà Tám Em.

Đối với 03 con gà trống là của ông Trần Văn N cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ô Môn đã trả lại ông Năm nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không đặt ra giải quyết.

Đối với đối tượng tên Hoàng mà bị cáo N khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra chưa xác định được, khi nào có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố : Trần Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Trần Hoàng N 03 (ba) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01 tháng 8 năm 2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng: Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự;  Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy có trọng lượng là 2,0014 gram, loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định.

- Trả lại cho bà Phan Thị Tám E 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen, đỏ, số seri 351869074655302 không rõ chất lượng bên trong.

Về án phí hình sự sơ thẩmÁp dụng theo Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Trần Hoàng N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo, để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


104
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về