Bản án 68/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 68/2019/HS-ST NGÀY 22/10/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2019/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn H T, sinh ngày 30 tháng 6 năm 1974 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 4B 192, tổ 10, phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu Đ và bà Lê Thị K; có vợ là Nguyễn T T và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản án số 173 ngày 21/12/1996 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 142 ngày 26/11/1998 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 28 ngày 24/01/2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; tại Bản án số 85 ngày 16/10/2012 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án số 541 ngày 13/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (04 tiền án đã được xóa án tích); bị bắt, tạm giữ từ ngày 20/6/2019, tạm giam từ ngày 25/6/2019; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Bùi A; vắng mặt.

+ Chị Nguyễn Thị H L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 20 tháng 6 năm 2019, tại trước cửa nhà số 2A10 đường Đ, phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Đội 2 Phòng PC04 Công an thành phố Hải Phòng kiểm tra bắt quả tang Nguyễn H T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: Thu trong túi quần bên phải phía trước của Nguyễn H T 01 túi nilon màu trắng có kích thước 3cm x 3cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô SH Mode màu trắng BKS 15B2-233.56; 01 túi giả da màu đen kích thước 6cm x 9cm tại móc treo chìa khóa xe mô tô SH Mode bên trong có: 01 túi nilon màu trắng kích thước 3cm x 3cm và 01 túi nilon màu trắng kích thước 6cm x 4cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 08 viên nén hình trụ màu đỏ kích thước 0,4cm x 0,4cm có ký hiệu WY trên mỗi viên nén cùng số tiền 1.000.000 đồng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định.

Kết luận giám định số 324/KLGĐ ngày 24/6/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Mẫu tinh thể thu giữ trong túi quần của Nguyễn H T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,9234 gam, là loại Methamphetamine; mẫu tinh thể thu trong túi da màu đen treo trên móc khóa gửi giám định là ma túy, có khối lượng 5,8525 gam, là loại Methamphetamine; các viên nén màu đỏ gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,7762 gam, là loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Nguyễn H T khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy. Khoảng 09 giờ ngày 20/6/2019, T mượn xe mô tô SH Mode BKS 15B2- 233.56 của chị Nguyễn Thị H L, sinh năm 1969; nơi cư trú: Số 4B 192, tổ 10, phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng (chị gái T) đi đến khu vực đường tàu Cát Cụt, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 3.000.000 đồng ma túy đá và hồng phiến. Người đàn ông đồng ý nhận tiền và đưa cho T 03 túi ma túy đá và 01 gói hồng phiến. T nhận ma túy và cho 01 túi vào túi quần bên phải phía trước đang mặc, cho vào túi giả da màu đen tại móc treo chìa khóa xe mô tô 02 gói ma túy đá và 01 túi hồng phiến. Sau đó, T đi xe máy về phía Cảng Đình Vũ, đến đoạn đường vắng, T bỏ 02 viên hồng phiến ra sử dụng sau đó đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, T vẫn để số ma túy đó trong túi quần và trong túi da trên móc chìa khóa đi ra đường. Khi đi đến trước cửa nhà số 2A10 đường Đ, phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 02 túi nilon màu trắng có kích thước 3cm x 3cm, 01 túi nilon màu trắng kích thước 6cm x 4cm bên trong đều chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 08 viên nén hình trụ màu đỏ kích thước 0,4cm x 0,4cm có ký hiệu WY trên mỗi viên nén; 01 xe mô tô SH Mode màu trắng BKS 15B2-233.56 cùng số tiền 1.000.000 đồng. Quá trình điều tra thể hiện xe mô tô SH Mode màu trắng, BKS 15B2-233.56 là xe của chị Nguyễn Thị H L; khi cho T mượn xe, chị L không biết T dùng để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị H L.

Tại Bản Cáo trạng số 65/CT-VKSNQ ngày 30/9/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn H T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn H T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải phòng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn H T với mức án từ 06 (sáu) năm tù đến 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; trả lại bị cáo số tiền 1.000.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, tạo điều kiện để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn H T tại phiên tòa thống nhất và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, khẳng định: Ngày 20/6/2019, tại trước cửa nhà số 2A10 đường Đ, phường L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Nguyễn H T bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép ma túy trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, hành vi của Nguyễn H T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Về tình tiết định khung hình phạt:

[3] Bị cáo đã cất giữ trái phép chất ma túy là 7,5521 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng cho bản thân. Nhân thân bị cáo có 05 tiền án, đã được xóa án tích 04 tiền án. Đối với bản án số 541 ngày 13/12/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử, ngày 30/11/2016, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù 66 tháng (tổng hợp của bản án số 85 ngày 16/10/2012 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng). Đến ngày 20/6/2019, bị cáo tiếp tục phạm tội, nên bị cáo thuộc trường hợp đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Như vậy, lần phạm tội này, Nguyễn H T phải chịu tình tiết định khung hình phạt “... Methamphetamine... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam...” “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

[4] Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về cất giữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo để tạo tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Bị cáo Nguyễn H T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Nhân thân bị cáo có 05 tiền án, mặc dù được xóa án tích 04 tiền án, nhưng cần phải đánh giá nhân thân bị cáo rất xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém.

[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

[7] Ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

[8] Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 342/2019/PC09 bên trong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; số tiền 1.000.000 đồng thu giữ không liên quan đến việc phạm tội nên được trả lại cho bị cáo, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Trong vụ án này, chị Nguyễn Thị H L cho Nguyễn H T mượn 01 xe mô tô SH Mode màu trắng BKS 15B2-233.56 nhưng không biết T dùng xe để đi mua ma túy nên không phạm tội. Đối tượng đã bán ma tuý cho Nguyễn H T, quá trình điều tra chưa xác định được căn cước lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn H T 06 (sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 6 năm 2019.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong còn lại sau giám định số 342/2019/PC09 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng;

Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 01/10/2019 và Biên lai thu tiền số AA/2010/3143ngày 01/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng)

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn H T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HS-ST ngày 22/10/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:68/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:22/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về