Bản án 68/2019/HSST ngày 11/06/2019 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 68/2019/HSST NGÀY 11/06/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 11 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2019/HSST ngày 22 tháng 5 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2019/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Đào Duy T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 02/6/1960 tại huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tiểu khu 01, xã T L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nhân viên hợp đồng; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đào Duy A (Đã chết) và bà: Ninh Thị N ( Đã chết); có vợ là: Luyện Thị K, sinh năm: 1963 và có 02 con ( Đều đã trưởng thành ); tiền án, tiền sự: Không có; bị bắt giữ ngày 15/3/2019 cho đến ngày 03/4/2019 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

2.Hoàng Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 14/12/1990 tại: xã M C, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản C L M, xã C P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Văn Đ, sinh năm: 1970 và bà: Lò Thị P, sinh năm: 1971; có vợ là: Đèo Thu H, sinh năm: 1992; chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 15/3/2019 cho đến ngày 23/3/2019 thì được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

3. Lò Văn D; tên gọi khác: Không; sinh ngày 23/01/1984 tại xã B L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản B, xã B L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo quyết định số: 118-QĐ/UBKTHU ngày 22/5/2019 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy huyện Thuận Châu; con ông: Lò Văn L, sinh năm: 1960 và bà Lò Thị S, sinh năm: 1960; có vợ là: Lường Thị T, sinh năm 1985 và có 01 con 10 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 15/3/2019 cho đến ngày 23/3/2019 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

4. Hoàng Văn B; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 14/3/1965 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tiểu khu 4, xã T L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Quân L, sinh năm 1930 và bà Đào Thị L (Đã chết); có vợ là: Nguyễn Thị D, sinh năm 1965 và có 02 con ( Đều đã trưởng thành ); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 15/3/2019 cho đến ngày 23/3/2019 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

5. Lường Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/8/1989 tại xã B P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N S, xã B P, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Nhân viên hợp đồng; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn S (Đã chết) và bà Lường Thị E, sinh năm: 1952; có vợ là: Lò Thị T, sinh năm: 1989 và có 02 con, lớn nhất 06 tuổi, nhỏ nhất 01 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 15/3/2019 cho đến ngày 23/3/2019 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

6. Vừ A C; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 10/11/1991 tại xã M G, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: bản P B, xã M G, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vừ Chù T, sinh năm: 1952 và bà Sùng Thị C, sinh năm: 1957; có vợ là: Thào Thị H, sinh năm: 1995 và có 01 con 02 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 15/3/2019 cho đến ngày 23/3/2019 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

7. Lò Văn C; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 30/8/1979 tại C L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P 2, xã C L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Giáo viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lò Văn S, sinh năm: 1946 và bà Lò Thị D, sinh năm: 1949 có vợ là Lò Thị H, sinh năm: 1986 và có 01 con 03 tuổi; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt giữ ngày 15/3/2019 cho đến ngày 23/3/2019 được tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 23 giờ ngày 14/3/2019, tổ công tác Công an huyện Thuận Châu trong quá trình làm nhiệm vụ tại khu vực bản Pha Khuông, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đã phát hiện bắt quả tang các đối tượng: Đào Duy T ( Trú tại: tiểu khu 1, xã T L); Hoàng Văn Tuyển ( Trú tại: bản C L M, xã C P); Lò Văn D ( Trú tại: bản B, xã B L); Hoàng Văn B ( Trú tại: tiểu khu 4, xã T L ); Lường Văn Q ( Trú tại: bản N S, xã B P ); Vừ A C ( Trú tại: bản P b, xã M G, huyện Quỳnh Nhai ); Lò Văn C ( Trú tại bản P 2, xã C L ) về hành vi đánh bạc tại phòng ở của chị Lường Thị T, sinh năm 1987 ( Khu tập thể giáo viên trường tiểu học Co Mạ 1, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ). Vật chứng thu giữ gồm: 6.675.000 đ (Sáu triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), 04 quân vị, 01 cái bát, 01 cái đĩa sứ và 05 chiếc ví đựng tiền, đã qua sử dụng cũ.

Ngày 18/3/2019, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu ra Quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng là số tiền: 6.675.000đ, tạm giữ của các đối tượng: Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Lường Văn Q, Vừ A C và Lò Văn C.

Tại Kết luận giám định số: 718 ngày 27/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La có nội dung: Toàn bộ số tiền 6.675.000đ gửi giám định có số mã hiệu như trong biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định lập ngày 19/3/2019 là tiền thật.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, các bị can Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Lường Văn Q, Vừ A C, Lò Văn C đã khai nhận như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 14/3/2019, Đào Duy T, Lường Văn Q ( Nhân viên hợp đồng trường tiểu học Co Mạ 1, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ), Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Vừ A C, Lò Văn C ( Giáo viên nhà trường ) sau khi ăn cơm, uống rượu tại quán cơm Hưng Loan ở khu vực Bản Pha Khuông, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu xong thì trở về phòng ở của T thuộc khu tập thể giáo viên Trường tiểu học Co Mạ 1 uống nước. Trong khi ngồi uống nước các đối tượng phát hiện phòng của chị Lường Thị T ở bên cạnh không có ai nên T đã rủ T1, D, B, Q, C, C1 sang phòng chị T đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa cá cược thắng thua bằng tiền và được mọi người hưởng ứng. Để có đồ dùng đánh bạc thì D đã chủ động đi cắt 04 quân vị một mặt màu trắng và một mặt màu đỏ từ quân bài tú lơ khơ, lấy 01 cái bát sứ, 01 cái đĩa sứ màu trắng có sẵn trong nhà chị T, rồi 07 người cùng đánh bạc. Hình thức chơi như sau: D là người cầm cái cho 04 quân vị vào đĩa sau đó dùng bát úp lên mặt đĩa, rồi xóc sau đó đặt xuống nền nhà, những người chơi còn lại đặt cược tiền theo hai cửa chẵn, lẻ theo quy ước: Phía tay trái người cầm cái là cửa lẻ, phía tay phải người cầm cái là cửa chẵn, với tỷ lệ cá cược thấp nhất là 10.000 đồng một lượt, sau khi người chơi đặt tiền xong, người cầm cái mở bát xem kết quả, trường hợp mở bát ra có 01 quân vị có mặt đỏ hoặc 03 quân vị có mặt màu trắng hoặc 03 quân vị có mặt màu đỏ hoặc 01 quân vị màu trắng gọi là lẻ thì người chơi đặt cược cửa lẻ thắng bạc. Nếu ra cửa chẵn (tức 02 quân vị có mặt màu trắng; 02 quân vị có mặt màu đỏ hoặc 04 quân vị đều có mặt màu đỏ hoặc 04 quân vị có mặt màu trắng), thì người chơi cá cược cửa chẵn sẽ thắng bạc. Khi bên cửa chẵn hoặc cửa lẻ thắng bạc, người cầm cái sẽ lấy tiền cá cược bên thua bạc trả cho bên thắng bạc với tỷ lệ 1: 1. Nếu thừa ra thì người cầm cái được hưởng, nếu thiếu thì người cầm cái phải bù vào số tiền tương ứng cho bên cửa lẻ hoặc cửa chẵn thắng bạc. T, T1, D, B, Q, C và C1 đánh bạc được khoảng 20 phút thì D đi ra ngoài có việc riêng do vậy T1là người thay D cầm cái. Một lúc sau, D quay lại ngồi tiếp tục đánh bạc cùng mọi người cho đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì các đối tượng đánh bạc bị Tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ số vật chứng như đã nêu ở trên.

Kết quả điều tra, xác định tổng số tiền: 6.675.000đ các bị can sử dụng vào việc đánh bạc cụ thể như sau:

- Tiền NHNN Việt Nam: 70.000 đồng thu giữ tại vị trí các bị can ngồi đánh bạc.

 - Đào Văn T mang theo 1.600.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua 550.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 1.050.000 đồng trong ví để trong túi áo khoác phía trong bên trái đang mặc.

- Hoàng Văn T1 mang theo 200.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua 100.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 100.000 đồng trong ví để trong túi quần phía sau bên phải.

- Lò Văn D mang theo 1.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua 450.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 550.000 đồng trong ví do đối tượng dấu vào thùng rác trong phòng vệ sinh.

- Hoàng Văn B mang theo 150.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua 120.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 30.000 đồng ở bên phía tay trái.

- Lường Văn Q mang theo 900.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua 275.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 625.000 đồng trong ví để trong túi quần phía trước bên phải đang mặc.

- Vừ A C mang theo 2.570.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thắng 1.630.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 4.200.000 đồng trong ví để ở túi áo khoác bên phải đang mặc.

- Lò Văn C mang theo 255.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc thua 205.000 đồng, khi bị bắt quả tang bị thu giữ 50.000 đồng do đối tượng cất dấu dưới gầm giường sau vị trí ngồi đánh bạc.

Tại bản Cáo trạng số: 67/CT-VKS ngày 22/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố các bị can Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Lường Văn Q, Vừ A C và Lò Văn C về Tội đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, giữ quan điểm truy tố các bị cáo với tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 – điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lường Văn Q phạm tội Đánh bạc và xử phạt bị cáo mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn việc khấu trừ một phần thu nhập trong thời gian chấp hành án đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 – điểm s khoản 1 Điều 51- Điều 35, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm tội: Đánh bạc và xử phạt tiền bị cáo từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ.

- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 – các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Vừ A C và Lò Văn C phạm tội: Đánh bạc và xử phạt tiền các bị cáo từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ.

- Đề nghị áp dụng các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sựkhoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Vật chứng là số tiền 6.675.000đ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số vật chứng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội gồm: 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị và 05 chiếc ví giả da không còn nhiều giá trị sử dụng (Thu giữ của các bị cáo T, T1, D, Q và C ).

Tại phiên tòa bị cáo T có ý kiến: Thừa nhận ngày 14/3/2019, do sau khi uống rượu không làm chủ được bản thân nên đã rủ rê các bị cáo T1, D, B, Q, C, C1 đánh bạc ăn tiền. Nay bị cáo rất ân hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo đã thành khẩn khai báo mà giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng hình phạt chính là phạt tiền.

Tại phiên tòa các bị cáo T1, D, B, C và C1 có có ý kiến: Thừa nhận ngày 14/3/2019 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa ăn thua bằng tiền.

Nay các bị cáo đã biết tội xin Hội đồng xét xử xem xét việc các bị cáo phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo mà giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng hình phạt chính là phạt tiền.

Tại phiên tòa bị cáo Q có ý kiến: Thừa nhận ngày 14/3/2019 đã cùng các bị cáo T, T1, D, B, C và C1 thực hiện hành vi đánh bạc. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo; hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn và bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng mà cho bị cáo được chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ mức thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Ngày 14/3/2019, tại phòng ở của chị Lường Thị T, sinh năm 1987 ( Khu tập thể giáo viên trường tiểu học Co Mạ 1, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La) các bị cáo Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Lường Văn Q, Vừ A C, Lò Văn C ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa thắng thua trả bằng tiền. Hội đồng xét xử xét thấy: Vật chứng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc bị phát hiện thu giữ là 6.675.000đ (Sáu triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), bản thân các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được bất cứ hành vi đánh bạc trái phép được thua trả bằng tiền hay hiện vật đều là vi phạm pháp luật mà vẫn cố ý thực hiện với động cơ sát phạt nhau về kinh tế. Xét lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau; phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ (6.675.000đ, 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị ); phù hợp với kết luận giám định về số tiền thu giữ cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận các bị cáo Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Lường Văn Q, Vừ A C, Lò Văn C đã phạm vào tội: Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 321 BLHS năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi; Hành vi đánh bạc do các bị cáo thực hiện thuộc một trong các tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm được quy định trong Bộ luật hình sự. Tính nguy hiểm của tội phạm này là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội gia tăng gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Do đó cần áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình có mức phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo trong vụ án, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật về tội phạm và hình phạt.

[4] Trong vụ án các bị cáo cùng thực hiện một hành vi phạm tội, trong đó bị cáo T là người khởi xướng, các bị cáo còn lại giữ vai trò hưởng ứng tích cực cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật hình sự để đánh giá tính chất, vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mỗi bị cáo làm căn cứ quyết định hình phạt.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Xét các bị cáo (T1, D, B, Q, C và C1) cùng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và xét xử cùng có thái độ ăn năn hối lỗi. Do đó được áp dụng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lường Văn Q có bố đẻ được tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng III nên được áp dụng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Đối với bị cáo Đào Duy T quá trình điều tra, truy tố và xét xử đều thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra nhân thân bị cáo đã từng bị xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Đánh bạc ( Bản án số: 83/2010/HSST ngày 26/5/2010 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La ). Do vậy tính đến lần phạm tội này mặc dù đã được xóa án tích, thì bị cáo cũng không được hưởng tình tiết giảm nhẹ “ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ” như các bị cáo khác trong vụ án.

[6] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện trong vụ án với tính chất bột phát và giá trị tài sản đánh bạc không lớn; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực sự ăn năn hối cải. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội. Áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự; buộc các bị cáo T, T1, D, B, C và C1 chấp hành hình phạt chính là phạt tiền là có căn cứ và thỏa đáng. Đối với bị cáo Q có hoàn cảnh đặc biết khó khăn, không thể chấp hành hình phạt chính là tiền. Do vậy cần áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự; để xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ là có căn cứ.

[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Xét ngoài bị cáo Q bị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ do có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế ra, thì các bị cáo còn lại đều bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền. Do vậy Hội đồng xét xử thống nhất quyết định không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với tất cả các bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 6.675.000 đ (Sáu triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần áp dụng các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với 04 quân vị, 01 cái bát sứ, 01 cái đĩa sứ các bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện Đánh bạc. Cần áp dụng các điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 05 chiếc ví giả da ( Thu giữ của các bị cáo Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Lường Văn Q và Vừ A C). Xét không còn nhiều giá trị sử dụng và các bị cáo cùng không yêu cầu lấy lại. Cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch tiêu hủy.

[9] Đối với tình tiết địa điểm các bị cáo đánh bạc tại gian phòng chị Lường Thị T được nhà trường bố trí làm nơi ở. Kết quả điều tra đã xác định: Chị T hoàn toàn không biết việc các bị cáo tự ý sử dụng vào việc đánh bạc. Do vậy cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề để xử lý đối với chị T là có căn cứ.

[10] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[11] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321 – các điểm i, s khoản 1 Điều 51 - khoản 2 Điều 51- Điều 36, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lường Văn Q phạm tội: Đánh bạc.

- Xử phạt bị cáo Lường Văn Q 06 ( Sáu ) tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam 09 ngày, quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại là 05 (Năm) tháng 03 ( Ba ) ngày, tính từ ngày UBND xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án của Tòa án.

Giao bị cáo Lường Văn Q cho UBND xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Bon Phặng, huyện Thuận Châu, giám sát, giáo dục bị cáo.

Miễn việc khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo Lường Văn Q.

Áp dụng khoản 1 Điều 321 – điểm s khoản 1 Điều 51- Điều 35, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Đào Duy T phạm tội: Đánh bạc.

- Xử phạt tiền bị cáo Đào Duy T 25.000.000đ ( Hai mươi lăm triệu đồng).

Áp dụng khoản 1 Điều 321 – các điểm i, s khoản 1 Điều 51- Điều 35, 58 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố các bị cáo Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Vừ A C và Lò Văn C phạm tội: Đánh bạc.

- Xử phạt tiền bị cáo Hoàng Văn T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng ).

- Xử phạt tiền bị cáo Lò Văn D 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

- Xử phạt tiền bị cáo Hoàng Văn B 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

- Xử phạt tiền bị cáo Vừ A C 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

- Xử phạt tiền bị cáo Lò Văn C 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Buộc các bị cáo T, T1, D, B, C và C1 chấp hành hình phạt nộp tiền 01 lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 6.675.000 đ (Sáu triệu sáu trăm bảy mươi lăm nghìn đồng ) được đựng trong 08 phong bì niêm phong riêng biệt của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La.

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 chiếc bát sứ màu trắng, có đường kính miệng bát 10,5 cm tạm giữ trên nền nhà tại vị trí nơi các bị cáo đánh bạc, đã qua sử dụng cũ;

+ 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, có viền đĩa màu vàng, trên mặt đĩa có in hình hoa văn màu đỏ - vàng – đen có đường kính 20 cm tạm giữ trên nền nhà tại vị trí nơi các bị cáo đánh bạc;

+ 04 quân vị hình dục cắt ra từ quân bài tú lơ khơ, một mặt màu đỏ có ô vuông sọc trắng, một mặt màu trắng thu giữ trên nền nhà tại vị trí nơi các bị cáo đánh bạc;

+ 05 chiếc ví giả da màu nâu - vàng, tạm giữ của các bị cáo Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Lường Văn Q và Vừ A C, đã qua sử dụng cũ.

3. Án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc các bị cáo Đào Duy T, Hoàng Văn T, Lò Văn D, Hoàng Văn B, Lường Văn Q, Vừ A C và Lò Văn C nộp án phí hình sự sơ thẩm, mỗi bị cáo là 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ).

4. Quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho các bị cáo biết quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 68/2019/HSST ngày 11/06/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:68/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về