Bản án 68/2017/HNGĐ-ST ngày 15/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 

BẢN ÁN 68/2017/HNGĐ-ST NGÀY 15/08/2017 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 15 tháng 8 năm B017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số G76/B016/TLST- HNGĐ ngày 05/10/B016 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 64/B017/QĐST- HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm B017, Quyết định hoãn phiên tòa 50/B017/QĐST- HNGĐ ngày B0/7/B017, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị A, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (vắng mặt);

B. Bị đơn: Anh E, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: tổ B, ấp G, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 14/9/2016 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị A trình bày:

Chị A và anh E sau khi tìm hiểu được một thời gian, năm B011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện không có ai mai mối hay ép buộc. Cuộc sống hôn nhân của chị A và anh E ban đầu hạnh phúc, đến năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xảy ra cãi vả, xúc phạm nhau, anh E không quan tâm lo lắng cho gia đình mà thường xuyên tụ tập ăn nhậu . Do không thể chịu đựng sự mâu thuẫn thường xuyên nên chị A và anh E ly thân, hai bên không còn quan hệ tình cảm lẫn kinh tế. Nay chị A cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị A được ly hôn anh E.

Về con chung: Chị A và anh E có một con chung là H, sinh ngày 19/7/2012. Chị A yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) , yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Về tài sản chung và nợ chung: chị A và anh E tự thỏa thuận , không yêu cầu Tòa án giải quyết .

Trong quá trình tố tụng, bị đơn anh E đều vắng mặt:

Phát biểu quan điểm của kiểm sát viên: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm Phán, Hội đồng xét xử, Thư ký cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh E vắng mặt trong quá trình tố tụng là chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa thì đã đủ cơ sở chấp nhận cho chị A được ly hôn anh E.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về tố tụng: Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án, anh E cư trú tại ấp G, xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Toà án nhân dân huyện D đã giao hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh E. Tại phiên tòa thứ nhất ngày 20/7/B017 và cũng như tại phiên tòa hôm nay (15/8/2017), anh E đều vắng mặt không có lý do. Như vậy, bi đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Chị A có đơn đề nghị Tòa án xét xử xử vắng mặt.

Căn cứ vào Điều 72, điểm b khoản B Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt chị A, anh E.

 [B].Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, nuôi con. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm B015.

 [G].Về hôn nhân:

Anh E và chị A chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu được chứng minh bằng Giấy trích lục kết hôn số 17 ngày 14/4/2011 nên quan hệ hôn nhân giữa anh E và chị A là hợp pháp.

Quá trình chung sống do hai bên bất đồng về quan điểm nên dẫn đến va chạm, mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Từ mâu thuẫn này, hai bên không thể tự giàn xếp, xóa bỏ mâu thuẫn mà thường xuyên cãi vã nhau. Vì vậy, năm 2015 cho đến nay, anh E và chị A đã sống ly thân, không còn quan hệ với nhau cả về tình cảm lẫn kinh tế. Tòa án triệu tập anh E tham gia phiên hòa giải nhằm hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng anh không đến. Xét thấy giữa anh E và chị A không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận cho chị A được ly hôn với anh E.

[4].Về con chung: Chị A và anh E có một con chung là H, sinh ngày 19/7/B01B. Xét thấy việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Xét cháu H đang chung sống với mẹ, vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt nên chấp nhận yêu cầu của bà A được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tại đơn khởi kiện, chị A yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng). Tại phiên hòa giải, chị A thay đổi yêu cầu về cấp dưỡng, cụ thể không yêu cầu anh E cấp dưỡng nuôi con. Do đó, tạm thời anh E không phải cấp dưỡng nuôi con.

[5].Về tài sản chung, nợ chung: Anh E, chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xử lý phần tài sản chung, nợ chung.

[6].Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 24, Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009 thì chị A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, các Điều 58, 81, 82, 8G, 84, 107, 110, 116, 117, 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chị A được ly hôn anh E.

B.Về con chung: Giao cho chị A được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, sinh ngày 19/7/2012 cho đến khi cháu đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Tạm thời anh E không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không có yêu cầu. Anh E được quyền lui tới thăm và chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con. 

G.Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 24, Điều 27 Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án năm 2009, chị A phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2015/0001580 ngày 05/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu. Như vậy, chị A đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Chị A, anh E được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 26 Luật thi hành án dân sự.


51
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 68/2017/HNGĐ-ST ngày 15/08/2017 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

    Số hiệu:68/2017/HNGĐ-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đất Đỏ - Bà Rịa - Vũng Tàu
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:15/08/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về