Bản án 677/2019/HS-PT ngày 01/11/2019 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 677/2019/HS-PT NGÀY 01/11/2019 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Trong các ngày 31/10/2019 và ngày 01/11/2019, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 702/2018/TLPT-HS ngày 04/12/2018 đối với bị cáo Tạ Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2018/HS-ST ngày 23/10/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo kháng cáo: Tạ Văn Đ; giới tính: nam; sinh ngày 25 tháng 7 năm 1984, tại tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp K, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 7/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông: Tạ Văn Đ1 và bà: Phạm Thị G; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giam từ ngày 05/4/2018 – có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn T - Luật sư, Văn phòng luật sư M, Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Đ – có mặt. Người bị hại: Bà Đỗ Kim H, sinh năm 1988 (chết); có thừa kế: bà Đỗ Thị A, sinh năm 1950 (mẹ bà H); địa chỉ hộ khẩu thường trú: ấp G1, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang – có mặt;

Người bảo vệ quyền lợi cho bà A là ông Nguyễn Thành T - Luật sư Văn phòng luật sư C - Đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Văn Đ và chị Đỗ Kim H chung sống như vợ chồng từ năm 2012, do nghi ngờ chị H có mối quan hệ tình cảm với người khác nên phát sinh mâu thuẫn, đến ngày 29/8/2017, Đ và chị H chia tay, Đ được chia số tiền 170.000.000 đồng và cam kết không làm phiền đến chị H cùng gia đình chị H.

Sự việc giải quyết xong, chị H bỏ đi sống nơi khác cắt đứt liên lạc với Đ.

Ngày 04/4/2018, Đ đến thuê trọ tại địa chỉ đường H, khu phố 1, phường L, quận Th, khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đang đứng ở lầu 2 khu nhà trọ, Đ nhìn thấy chị H đi cùng anh Đặng Châu T về phòng trọ số 3 lầu 1 đóng cửa lại. Đ bực tức mua 05 lon bia về uống và nảy sinh ý định giết chị H. Khoảng 11 giờ ngày 05/4/2018, anh T đến phòng trọ của chị H đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày anh T ra về. Sau khi đưa anh T xuống cửa ra về chị H quay lại phòng trọ thì lúc này Đ đi từ phía sau áp sát chị H, rồi dùng tay trái choàng qua cổ bịt miệng chị H, tay phải cầm dao đâm 04 nhát vào vùng trước xương ức, vùng hông lưng phải, cánh tay trái của chị H, vừa đâm Đ vừa đẩy chị H vào phòng. Chị H chống cự lại, cắn vào tay của Đ và kêu cứu. Nghe tiếng kêu cứu, chị Phạm Thị Thanh Nh và anh Lê Viết Hồng T ở phòng kế bên chạy sang can ngăn thì bị Đ đứng chặn cửa và đe dọa, rồi bỏ trốn khỏi hiện trường.

Theo Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 419/TT.18 ngày 07/5/2018 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận nguyên nhân chết của Đỗ Kim H: “Chết do suy hô hấp tuần hoàn do đa vết thương thấu ngực, bụng gây thủng tim, phổi, gan, dạ dày, ruột và đứt động mạch tĩnh mạch cánh tay trái”. Tại văn bản ngày 01/6/2018, Trung tâm pháp y số 419-GT/TT.18 giải thích đối với trường hợp chị Đỗ Kim H như sau: “Các thương tích da do vật sắc nhọn gây ra. Các vết thương đứt da nông và sước da do vật sắc, vật sắt nhọn hoặc vật có cạnh sắt gây ra. Con dao do Cơ quan điều tra cung cấp gây ra được tất cả các thương tích trên người Đỗ Kim H”.

Ti Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2018/HS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Tạ Văn Đ phạm tội “Giết người”. Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Tạ Văn Đ: Tử hình. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 29/10/2018, bị cáo Tạ Văn Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Tạ Văn Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đã khai nhận hành vi phạm tội đúng theo kết quả điều tra vụ án và nội dung bản án sơ thẩm và cung cấp các tài liệu như bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ về mặt dân sự theo bản án sơ thẩm là 233.022.000đ (hai trăm ba mươi ba triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) cho gia đình bị hại; bị cáo có bác ruột Tạ Văn L là Liệt sĩ, là người có công với tổ quốc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong phần phát biểu đã phân tích tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo, hậu quả xảy ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, đã bồi thường toàn bộ về mặt dân sự theo bản án sơ thẩm là 233.022.000đ (hai trăm ba mươi ba triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) cho gia đình bị hại; bị cáo có bác ruột Tạ Văn L là Liệt sĩ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đây là tình tiết mới, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Tạ Văn Đ từ hình phạt Tử hình sang hình phạt Chung thân.

Người bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Đ có phát biểu và tranh luận: trong vụ án này về mặt tội danh thì tôi không tranh luận, nhưng mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là quá nghiêm khắc đối với bị cáo, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, với những lý do sau: Trong quá trình chung sống cả hai có tạo lập được một số tài sản chung, tuy nhiên khi xảy ra tranh chấp thì khối tài sản này không được giải quyết thông qua Tòa án mà đôi bên tự thỏa thuận, trong đó phía gia đình bị hại (anh của bị hại) đã đứng ra giải quyết gây nhiều thiệt thòi cho bị cáo, điều này được thể hiện qua nội dung Bản cam kết ngày 29/8/2017 (tại BL 179). Chính nguyên nhân này, kèm với một số mâu thuẫn khác trong quá trình chung sống đã gây ra tâm trạng uất ức, chán nản cho bị cáo dẫn đến một người bản chất hiền lành, thật thà như bị cáo ra tay thực hiện hành vi phạm tội.

Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã thật sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, đã bồi thường toàn bộ về mặt dân sự theo bản án sơ thẩm là 233.022.000đ cho gia đình bị hại. Bị cáo có bác ruột Tạ Văn L là liệt sĩ, là người có công với tổ quốc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đây là tình tiết mới bị cáo đã bổ sung tại phiên tòa hôm nay. Mặt khác, trình độ học vấn của bị cáo thấp, do đó khả năng nhận thức và kỹ năng xã hội bị hạn chế nên khi mâu thuẫn xảy ra bị cáo đã không biết cách kiềm chế cảm xúc, lựa chọn xử sự khác phù hợp hơn nên đã dẫn đến sự việc đáng tiếc. Bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng giúp vụ án sớm được giải quyết.

Bà Đỗ Thị A thừa kế của người bị hại Đỗ Kim H vẫn tiếp tục giữ nguyên yêu cầu bị cáo Tạ Văn Đ bồi thường các chi phí ma chay, mồ mả, tổn thất về tinh thần như bản án sơ thẩm đã tuyên và yêu cầu xử lý đúng pháp luật đối với bị cáo.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho bên bị hại trong phần tranh luận đã cho rằng việc bị cáo không gặp gia đình bị hại để trao tiền bồi thường, nộp sau khi xét xử sơ thẩm thể hiện sự thiếu thiện chí của bị cáo và gia đình bị cáo cho nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem đây là tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo phạm tội có dự mưu trước, quá trình chung sống với bị hại đã nhiều lần đánh đập, đe dọa bị hại, thể hiện tính hung hãn, côn đồ. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo theo đúng pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng bị cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi; ý kiến của các luật sư, đại diện Viện kiểm sát trong quá trình tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo:

[2.1] Ti phiên tòa, bị cáo Tạ Văn Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa được xác định phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản ghi nhận sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Tạ Văn Đ và chị Đỗ Kim H từng chung sống như vợ chồng, đã chia tay do phát sinh mâu thuẫn. Tuy nhiên, vì ghen tuông vô cớ, nên khoảng 12 giờ 15 phút ngày 05/4/2018, Đ đã dùng dao đâm nhiều nhát vào người chị H, hậu quả làm chị H chết, rồi bỏ trốn khỏi hiện trường.

Hành vi của Tạ Văn Đ đã phạm vào tội “Giết người” được qui định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, quyền sống của người khác; làm mất trật tự an ninh xã hội. Chỉ vì sự ghen tức trong tình cảm, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội, làm chết một người. Xét hành vi phạm tội của bị cáo dùng dao đâm chết chị Đỗ Kim H có tính chất côn đồ, đây là tình tiết định khung hình phạt theo điểm n khoản 1 của Điều 123 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Với tính chất nguy hiểm của hành vi bị cáo đã thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải tuyên phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ sức răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt đã tuyên trong bản án sơ thẩm là không sai.

Tuy vậy, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cho thấy sau khi gây án, bị cáo đã tìm gặp người thân là anh rể Tạ Thanh Ph và em ruột Tạ Văn X để báo việc mình đã giết người và có ý định tự tử. Nội dung này, mặt nào đã thể hiện sự ân hận về hành vi đã làm của bị cáo (BL 122, 123, 124 và BL 131, 132). Mặt khác, Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên nhân sâu xa dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là bắt nguồn từ sự không rõ ràng trước các mối quan hệ tình cảm của bị hại (vợ bị cáo); bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng giúp vụ án sớm được giải quyết; trước, trong và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn xin gia đình bị hại tha thứ cho lỗi lầm của mình.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tích cực tác động gia đình khắc phục hậu quả, đã bồi thường toàn bộ về mặt dân sự là 233.022.000đ (hai trăm ba mươi ba triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng) cho gia đình bị hại; bị cáo có bác ruột là liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ. Đây là các tình tiết mới mà bị cáo đã bổ sung trong giai đoạn phúc thẩm, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hi đồng xét xử cho rằng đây là một sự chuyển biển về mặt tâm lý tội phạm, cho thấy có khả năng cải tạo đối với bị cáo, việc tước đi mạng sống của bị cáo trong trường hợp này là không cần thiết, cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống hình phạt tù chung thân cũng thể hiện được tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, đủ giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Hi đồng xét xử nhận định, vì trên thực tế bị cáo đang bị tạm giam, nên đã động viên gia đình bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự để khắc phục hậu quả đã phần nào thể hiện sự ăn năn, thiện chí. Do vậy, lời bào chữa của luật sư cho rằng bị cáo không có thiện chí là không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những nhận định đã nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát, yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Tạ Văn Đ và luật sư bào chữa cho bị cáo là có cơ sở để chấp nhận.

[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c, khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Văn Đ. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 380/2018/HSST ngày 23/10/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần hình phạt.

1/ Về tội phạm và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Tạ Văn Đ phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Tạ Văn Đ hình phạt Chung thân.

Tiếp tục tạm giam bị cáo theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Buc bị cáo Tạ Văn Đ phải bồi thường cho thừa kế của chị Đỗ Kim H là bà Đỗ Thị A số tiền 233.022.000 đồng (hai trăm ba mươi ba triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng). Bị cáo đã bồi thường đủ theo biên lai thu số 0024766 ngày 22/10/2019 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà A được quyền liên hệ với Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để nhận số tiền trên.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3/ Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

173
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 677/2019/HS-PT ngày 01/11/2019 về tội giết người

Số hiệu:677/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 01/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về