Bản án 67/2019/HNGĐ-ST ngày 07/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

BẢN ÁN 67/2019/HNGĐ-ST NGÀY 07/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 322/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phạm Văn B, sinh năm 1987 (Có đơn xin vắng mặt).

Đa chỉ: ấp XĐ, xã ĐH A, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

Bị đơn: Chị Ngô Minh Ch, sinh năm 1990 (Có đơn xin vắng mặt).

Đa chỉ: Khu vực TĐ, phường PT, quận Ô Môn, Tp.Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/9/2019 và quá trình giải quyết, nguyên đơn anh Phạm Văn B trình bày và yêu cầu như sau: Nguyên vào năm 2010, sau một thời gian quen biết và tìm hiểu, anh và chị Ch được hai gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường PT, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ ngày 25 tháng 02 năm 2010. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến đầu năm 2019 thì anh, chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên THờng xuyên cải vả nhau, chị Ch đã về gia đình cha mẹ ruột sống và anh chị đã ly thân từ đó đến nay.

Xét thấy không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Nay anh B yêu cầu được ly hôn với chị Ch.

Về con chung: Có 03 người con tên Phạm Minh N, sinh ngày 23/02/2011; Phạm Anh TH, sinh ngày 13/6/2012 và Phạm Khánh B, sinh ngày 08/8/2013 hiện nay do anh đang trực tiếp nuôi dưỡng con, khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi các con đến trưởng thành, không yêu cầu chị Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai đề ngày 15/9/2019 bị đơn Ngô Minh Ch trình bày:

Thng nhất với lời trình bày của anh B về hôn nhân, về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, anh chị THờng bất hòa về tình cảm, THờng xuyên cãi nhau nên mất hạnh phúc. Anh chị tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả nên chị đã về nhà cha mẹ ruột sống nên vợ chồng ly thân từ đầu năm 2019 đến nay.

Nay, qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnchị đồng ý ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị đồng ý giao 03 người con tên Phạm Minh N, sinh ngày 23/02/2011; Phạm Anh TH, sinh ngày 13/6/2012 và Phạm Khánh B, sinh ngày 08/8/2013 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 15/9/2019 cháu Phạm Minh N, Phạm Anh TH trình bày: Trường hợp anh B và chị Ch ly hôn thì các cháu có nguyện vọng sống với cha là Phạm Văn B.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Ngô Minh Ch và anh Phạm Văn B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 02 năm 2010 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và điều chỉnh. Quá trình chung sống, có phát sinh mâu thuẫn nên anh B khởi kiện yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn”. Do bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại khu vực TĐ, phường PT, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn B và chị Ngô Minh Ch có đơn yêu cầu xét xử vằng mặt với lý do: đi làm ăn xa, không thuận tiện trong việc đi lại. Theo quy định tại khoản 2 Điêu 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử văng măt anh B và chị Ch là phù hợp.

[3] Xét quan hệ hôn nhân: Anh B và chị Ch tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 25 tháng 02 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân phường PT, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ đúng quy định pháp luật. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh B và chị Ch thống nhất rằng nguyên nhân mâu thuẫn la do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly thân nhau từ đầu năm 2019 đến nay, trong thời gian ly thân anh chị không còn quan tâm chăm sóc đến nhau và không còn tình cảm với nhau nữa nên anh B yêu cầu ly hôn với chị Ch và chị Ch đồng ý ly hôn với anh B.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống anh B và chị Ch có 03 người con chung tên Phạm Minh N, sinh ngày 23/02/2011; Phạm Anh TH, sinh ngày 13/6/2012 và Phạm Khánh B, sinh ngày 08/8/2013 hiện tại các cháu do anh B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh B yêu cầu được tiếp tục nuôi các con đến trưởng thành, không yêu cầu chị Ch cấp dưỡng nuôi con chung, yêu cầu nuôi con của anh B được chị Ch đồng ý thông qua bản tự khai chị nộp cho Tòa án. Đồng thời các con của anh chị cũng có nguyện vọng chung sống với anh B.

Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự.

Người không trực tiếp nuôi con vẫn có quyền thăm nom con, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con theo Điều 58 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các

- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 51; 56; 81; 82; 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình,

- Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban THờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Phạm Văn B.

- Về hôn nhân: Anh Phạm Văn B được ly hôn với chị Ngô Minh Ch.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Minh N, sinh ngày 23/02/2011; Phạm Anh TH, sinh ngày 13/6/2012 và Phạm Khánh B, sinh ngày 08/8/2013 cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Chị Ngô Minh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung cho chị Ch không ai được quyền cản trở.

- Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không xem xét giải quyết.

Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Văn B phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) anh B đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 010611 ngày 23/10/2019, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ (công nhận anh B đã nộp xong).

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đươc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


60
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 67/2019/HNGĐ-ST ngày 07/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:67/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Ô Môn - Cần Thơ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 07/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về