Bản án 66/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 về tội chứa mại dâm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 66/2018/HS-ST NGÀY 28/11/2018 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 28 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Dương Thị Ng, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1959 tại Nam Định.

Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá (học vấn): 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T, sinh năm 1915, đã chết năm 1990 và bà Mai Thị X, sinh năm 1925, đã chết năm 1999; Chồng, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không.

Dương Thị Ng bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/10/2018 đến ngày 11/10/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị T, sinh năm: 1969;

Nơi cư trú: Xóm 11, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Trần Văn N, sinh năm: 1968;

Nơi cư trú: Đội 2, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1962;

Nơi cư trú: Tổ dân phố 1, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 45 phút, ngày 05/10/2018, Trần Văn N đến nhà Dương Thị Ng ở tổ dân phố 1, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định để uống nước. Trong lúc ngồi uống nước, N đặt vấn đề với Dương Thị Ng để N mua dâm tại nhà Dương Thị Ng, Ng đồng ý, Ng và N thỏa thuận với nhau cứ mỗi một lần mua dâm thì N phải trả cho Ng 250.000 đồng, N đồng ý và đưa cho Ng số tiền 300.000 đồng, trong đó có 250.000 đồng là tiền N mua dâm còn 50.000 đồng là tiền N trả tiền nước uống. Sau khi nhận tiền của N, Dương Thị Ng gọi điện thoại cho Trần Thị T là gái bán dâm đến nhà Ng để bán dâm cho Trần Văn N. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T đến nhà Ng, Ng đưa cho T 01 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream” và bảo T dẫn N vào phòng ngủ phía Nam nhà Ng để mua bán dâm. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/10/2018, khi T đang bán dâm cho N tại buồng ngủ phía Nam nhà Ng thì bị Công an huyện N bắt quả tang. Thu giữ của Ng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ màu đen có số sim 0373467473, số tiền 100.000 đồng, thu giữ của T 01 mđiện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số sim 0979004219, thu giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream” đã qua sử dụng. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Dương Thị Ng, thu giữ tại tủ kính hình chữ nhật trước cửa nhà 03 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream” chưa qua sử dụng, thu giữ trên mặt bàn uống nước tại phòng khách số tiền 200.000 đồng, thu giữ tại gầm giường trong buồng phía nam 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream”.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Dương Thị Ng, Trần Văn N và Trần Thị T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận thêm: Trong quá trình Trần Thị T đến nhà Dương Thị Ng để bán dâm cho khách, Ng và T thỏa thuận với nhau nếu có khách đến nhà Ng hỏi mua dâm thì Ng gọi điện cho T đến để bán dâm, Ng thu của khách 250.000 đồng, Ng chia cho T 200.000 đồng còn Ng hưởng lợi 50.000 đồng. Số tiền 100.000 đồng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N thu giữ của Dương Thị Ng khi bị bắt quả tang và số tiền 200.000 đồng thu giữ trên mặt bàn uống nước tại phòng khách nhà Ng khi khám xét khẩn cấp là tiền Ng thu của N trong đó có 50.000 đồng là tiền N mua nước uống, còn 250.000 đồng là tiền N trả cho Ng để mua dâm. Đối với 03 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream” chưa qua sử dụng thu giữ tại nhà Ng khi khám xét khẩn cấp là bao cao su Ng mua về để sử dụng và hễ có khách đến hỏi mua dâm thì Ng đưa cho khách sử dụng.

Bản cáo trạng số 60/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Dương Thị Ng về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như tội danh và điều luật đã nêu; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Dương Thị Ng từ 18 (Mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng; Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tự nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã ăn năn hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Dương Thị Ng tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 05/10/2018, tại nhà của Dương Thị Ng ở tổ dân phố 1, thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định, Dương Thị Ng có hành vi cho Trần Văn N mua bán dâm với Trần Thị T, để lấy 250.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm đạo đức xã hội, nếp sống văn minh, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của cộng đồng dân cư, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn kỷ cương tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy trong quá trình tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, có sự ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, mặt khác Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N có công văn số 03/CV-ĐN ngày 15/11/2018 về vệc đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Ng do bị cáo đã tích cực giúp đỡ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N phát hiện, điều tra tội phạm nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không cần phải cách ly bị cáo mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có thể giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo sống một mình, làm nông nghiệp, không sở hữu tài sản lớn có giá trị và kinh tế gia đình khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với Trần Văn N và Trần Thị T, ngày 05/10/2018 đã có hành vi mua, bán dâm tại nhà Dương Thị Ng, Công an huyện N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn N và Trần Thị T là phù hợp.

[6] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của Trần Văn N không sử dụng vào mục đích mua bán dâm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Trần Văn N là phù hợp.

- Đối với số tiền 50.000 đồng thu giữ của Dương Thị Ng là tiền Trần Văn N trả tiền mua nước uống của Dương Thị Ng, không liên quan đến việc mua bán dâm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho Dương Thị Ng là phù hợp.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ màu đen có số sim 0373467473 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung có số sim 0979004219 là phương tiện mà Ng và T đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần cần tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream”đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream”, 03 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream” chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền 250.000 đồng là tiền Ng có được do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương Thị Ng phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện N là tương đối phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 327; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào Điều 106; Điều 135, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1]. Tuyên bố bị cáo Dương Thị Ng phạm tội “Chứa mại dâm”.

[2]. Xử phạt Dương Thị Ng 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án 28/11/2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2018 đến ngày 11/10/2018.

Giao bị cáo Dương Thị Ng cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Q, huyện N, tỉnh Nam Định nơi cư trú của bị cáo giám sát giáo dục. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

[3]. - Tịch thu hóa giá sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 vỏ màu đen có số sim 0373467473 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu trắng có số sim 0979004219 thu giữ của Dương Thị Ng và Trần Thị T.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream” đã qua sử dụng, 01 vỏ bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream”, 03 bao cao su nhãn hiệu “ERO Beauti Dream” chưa qua sử dụng thu giữ tại nhà của Dương Thị Ng.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 250.000 đồng thu giữ của Dương Thị Ng là tiền Trần Văn N trả cho Ng để mua dâm mà có.

Toàn bộ vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 13 tháng 11 năm 2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện N.

[4]. Buộc bị cáo Dương Thị Ng phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho người có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 về tội chứa mại dâm

Số hiệu:66/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nam Trực - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/11/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về