Bản án 66/2018/HS-ST ngày 21/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 66/2018/HS-ST NGÀY 21/08/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:66/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo. Huỳnh Chí T, sinh năm 1989, tại Bạc Liêu.

Nơi cư trú: Khóm C, phường T, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn) 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hữu U, sinh năm 1962 và bà Đoàn Thị Kim H, sinh năm 1965; vợ Lê Thị Mộng P, sinh năm 1995; anh, em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại. “Có mặt”

- Bị hại: Anh Trần Văn D, sinh năm 1991 tại Bạc Liêu. Cư trú: Ấp T, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụán được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ, ngày 22 tháng 01 năm 2018 Trần Văn D rủ Huỳnh Chí T và Võ Thị T1 đến nhà của Lâm Hải V (bạn gái D) trú tại đường số M, khu dân cư TA, khóm N, phường Y, thành phố B chơi và tổ chức uống rượu. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, D và V đi ra ngoài để mua rượu và thức ăn, trước khi đi D để điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone X, màu vàng – đồng và ốp lưng bằng nhựa, màu đen (đang sạc pin trong phòng ngủ của V) và trong nhà chỉ còn T và T1. Lợi dụng lúc chị T1 không để ý, Huỳnh Chí T lấy trộm điện thoại của anh D đem cất giấu trong đám cỏ bên hông nhà của V. Một lúc sau, anh D về phát hiện điện thoại bị mất nên có hỏi T và T1 có lấy điện thoại của D không thì trả lại, nhưng không ai thừa nhận nên anh Trần Văn D đến Công an phường 7, thành phố Bạc Liêu trình báo sự việc. Công an phường 7 tiến hành mời Huỳnh Chí T về trụ sở Công an phường làm việc. Qua làm việc, Huỳnh Chí T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận nơi cất giấu điện thoại, sau đó Công an Phường 7, thành phố Bạc Liêu đã thu hồi được điện thoại nêu trên. Qua kiểm tra, anh Trần Văn D đã xác nhận chính là điện thoại của anh bị mất trộm.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 08.1/KL-HĐĐGTS ngày 25/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bạc Liêu kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone X, dung lượng 128GB màu vàng – đồng và 01 ốp lưng bằng nhựa màu đen có tổng giá trị là 20.926.500 đồng.

Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 15/6/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Huỳnh Chí T về tội “Trộm cấp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đồng thời nhận định bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cấp tài sản có giá trị 20.926.500 đồng, tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; tài sản đã được thu hồi và trả lại cho bị hại nên thuộc trường hợp chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và người bị hại không yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí T phạm tội “Trộm cấp tài sản”.

+ Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Chí T từ 03 tháng đến 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án.

+ Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Huỳnh Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng.

- Bị cáo Huỳnh Chí T đã thành khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Sau khi nghe Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng vể thẩm quyền, trình tự, thủ

tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Chí T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

 [2] Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Chí T tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong giai đoạn điều tra; lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng là chị Lâm Hải V và bị hại anh Trần Văn D về thời gian, địa điểm, đặc điểm tài sản, cách thức chiếm đoạt tài sản; đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh:

Vào khoảng 19 giờ ngày 22/01/2018 tại nhà của chị Lâm Hải V, địa chỉ đường số M, khu dân cư TA, khóm N, phường Y, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu, Huỳnh Chí T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone X, màu vàng – đồng và ốp lưng bằng nhựa, màu đen của anh Trần Văn D có giá trị là 20.926.500 đồng. Hành vi lén lút chiếm đoạt điện thoại của anh Trần Văn D do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Huỳnh Chí T có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và cách ly bị cáo ra đời sống của xã hội một thời gian để giáo dục và nhằm răn đe phòng ngừa chung.

 [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

 [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, áp dụng các quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ Luật hình sự để giảm một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

 [5] Bị cáo Thắng có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 nên áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo T là phù hợp.

 [6] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

 [7] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu:

- Đối với đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong vụ án này bị cáo đã chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn (trị giá 20.962.500 đồng) nên không thuộc trường hợp chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “chưa gây thiệt hại” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T.

- Đối với đề nghị áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo, căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo thì cần xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn mới đủ tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và nhằm mục đích phòng ngừa chung đối với các hành vi phạm tội tương tự. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị cho bị cáo hưởng án treo.

- Đối với các đề nghị khác là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [8] Về án phí: Bị cáo Huỳnh Chí T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìnđồng) án phí hình sự sơ thẩm  theo quy định của pháp luật.

 [9] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; khoản 1, khoản 3 Điều 54 Bộ Luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Chí T 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Huỳnh Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


41
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2018/HS-ST ngày 21/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:66/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bạc Liêu - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về