Bản án 66/2018/HNGĐ-ST ngày 07/11/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 66/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 07 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 327/2018/TLST- HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:327/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn V, sinh năm 1985. Nơi ĐKKNKTT: Đội 3, thôn B, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi. Hiện trú tại: 55 đường H, phường M, quận S, TP. Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lương Thị T, sinh năm 1989; nơi cư trú: K568/12 đường T, tổ 18 phường X, quận TTp Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2018, ý kiến trình bày tại phiên hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn V và Lương Thị T kết hôn năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND phường X, quận T, Tp Đà Nẵng, Hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng ít sống chung với nhau, khác nhau về quan điểm sống, hiện nay ông V không còn tình cảm với bà T nữa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 2.2018 đến nay, phần ai đấy sống không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Do đó tôi yêu cầu được ly hôn với bà T.

Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Tấn V và bà Lương Thị T có 01 con chung: Nguyễn Thùy A, sinh ngày 19/11/2015. Ly hôn, ông V có nguyện vọng nuôi con, nhưng nếu bà T giành quyền được trưc tiếp nuôi con thì ông đồng ý cho bà T nuôi dưỡng và ông có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ/tháng cho đến khi con trưởng thành.

Tại bản khai ngày 19 tháng 7 năm 2017, lời khai tại các phiên hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Lương Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất như lời trình bày của ông V về thời gian, địa điểm kết hôn và quan hệ hôn nhân của vợ chồng. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như ông V trình bày là không có căn cứ, vì trong quá trình chung sống thì vợ chồng không có mâu thuẫn gì hết, không cãi nhau hay đánh nhau gì. Hiện nay, hiện nay tình cảm của bà T đối với ông V vẫn còn, vì hạnh phúc gia đình và tương lai của con cái bà tha thuyết xin được đoàn tụ.

Về quan hệ con chung: Thống nhất như lời trình bày của ông V về con chung. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thùy A, sinh ngày 19/11/2015 và yêu cầu ông V có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ/tháng cho đến khi con trưởng thành.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tranh tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán và HĐXX và Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu xin được ly hôn của ông Nguyễn Tấn V và bà Lương Thị T là có căn cứ phù hợp với Điều 51 và Điều 56 và 58 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX chấp nhận.

- Về con chung: Thống nhất như lời thỏa thuận về việc bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông V có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ/tháng cho đến khi con trưởng thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét về thủ tục tố tụng: Ngày 20 tháng 6 năm 2018, ông Nguyễn Tấn V khởi kiện vụ án Hôn nhân và Gia đình, về việc "Ly hôn" đối với bà Lương Thị T, nơi cư trú: K568/12 đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; ngày 09/7/2018 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về nội dung: Tại phiên toà, ông Nguyễn Tấn V cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng ít sống chung với nhau, khác nhau về quan điểm sống, hiện nay ông V không còn tình cảm với bà T nữa. Vợ chồng ông đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2018 đến nay, phần ai đấy sống không còn quan tâm gì đến nhau nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với bà Lương Thị T. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa thể hiện: Hôn nhân giữa ông Nguyễn Tấn V và bà Lương Thị Tlà hợp pháp; mâu thuẫn của vợ chồng giữa ông V, bà Tcũng được hai bên gia đình nội ngoại động viên khuyên nhũ nhưng vẫn không thành. Trong quá trình tranh tụng, qua các phiên hòa giải mỗi lần ông V, bà Tgặp nhau, qua cách nói chuyện thể hiện tình cảm vợ chồng không còn nữa, thực tế vợ chồng đã sống ly thân gần 01 năm nay, phần ai đấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau nữa; tại phiên tòa Hội đồng xét xử cũng hòa giải động viên ông V, bà T nghĩ về hạnh phúc gia đình, tương lai của con cái quay về đoàn tụ nhưng vẫn không thành. Điều đó thể hiện mâu thuẫn của vợ chồng như ông V trình bày là có căn cứ. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông V, bà T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài, xét yêu cầu ly hôn của ông V là phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình nên HĐXX chấp nhận.

[3] Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Tấn V và bà Lương Thị T xác định vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Thùy A, sinh ngày 19/11/2015. Tại phiên tòa bà Tcó nguyện vọng được nuôi con chung, yêu cầu trên của bà T cũng được ông V đồng ý do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về cấp dưỡng phí tổn nuôi con: Tại phiên tòa ông V, bà T đã thỏa thuận và thống nhất với nhau là mỗi tháng ông V có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con mỗi tháng là 3.000.000đ, xét thấy sự thỏa thuận trên là tự nguyện, phù hợp với Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình nên HĐXX chấp nhận.

[5] Về án phí: Ông Nguyễn Tấn V phải chịu 3000.000đ án phí Hôn nhân và giađình và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội.

Tuyên Xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn V được ly hôn với bà Lương Thị T

2/ Về con chung: Bà Lương Thị T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Thùy A, sinh ngày 19/11/2015. Ông Nguyễn Tấn V có nghĩa vụ cấp dưỡng phí tổn nuôi con mỗi tháng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 12.2018, cấp dưỡng vào ngày 10 đầu tháng.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Khi ly hôn cha, mẹ đều có các quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

3/ Về án phí: ông Nguyễn Tấn V phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, tổng số tiền án phí ông Nguyễn Tấn V phải chịu là 600.000đ (sáu trăm ngàn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 3897 ngày 04/7/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Số tiền án phí còn lại ông Nguyễn Tấn Vphải chịu là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).

4/ Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn và bị đơn biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.

5/ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


52
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2018/HNGĐ-ST ngày 07/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:66/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Thanh Khê - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 07/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về