Bản án 66/2018/HNGĐ-ST ngày 06/08/2018 về tranh chấp ly hôn giữa bà Ch và ông G

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 66/2018/HNGĐ-ST NGÀY 06/08/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN GIỮA BÀ CH VÀ ÔNG G

Ngày 06 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 133/2018/TLST.HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2018, về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2018/QĐST- HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số: 56/2018/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1978. Có mặt.

Địa chỉ: ấp BPh1, xã BH, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Ông Huỳnh Xuân G, sinh năm 1978. Vắng mặt.

Địa chỉ: ấp MH, xã MHH, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch trình bày và có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Ch và ông Huỳnh Xuân G do quen biết, tự tìm hiểu nhau nên đã tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2004, có tổ chức lễ cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai, có đăng ký kết hôn vào ngày 01/8/2006 tại Ủy ban nhân dân xã MHH thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 04 năm thì phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được nên bà Ch đã nộp đơn xin ly hôn và được Tòa án thụ lý giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án thì do hoàn cảnh khó khăn, bà phải đi làm ăn xa nên Tòa án đã gửi thông báo mời bà nhiều lần nhưng không được nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án theo Quyết định đình chỉ số: 57/2015/QĐST-HNGĐ ngày 17/07/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này vợ chồng ông bà vẫn không thể hàn gắn tình cảm được và mâu thuẩn của vợ chồng ngày càng trầm trọng và vợ chồng đã ly thân hơn một năm nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Nguyễn Thị Ch yêu cầu được ly hôn với ông Huỳnh Xuân G.

-Về con chung: Có 01 con chung chưa trưởng thành tên Huỳnh Nam H, sinh ngày 09/11/2005. Hiện cháu H đang sống với bà Ch và ý kiến của cháu H có nguyện vọng được sống chung với bà Ch. Khi ly hôn bà Ch yêu cầu được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa trưởng thành tên Huỳnh Nam H, sinh ngày 09/11/2005, không yêu cầu ông G phải cấp dưỡng nuôi con chung.

-Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Nguyễn Thị Ch và ông Huỳnh Xuân G không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Huỳnh Xuân G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Huỳnh Xuân G không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Theo biên bản xác minh ngày 21/6/2018 của Công an xã MHH, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang thể hiện ông Huỳnh Xuân G có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp MH, xã MHH, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, hiện nay ông G đi làm ăn xa không rõ ở đâu nhưng vẫn thường đi và về.

- Tại phiên tòa:

+ Bà Nguyễn Thị Ch trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên nhận định:

[2] Về tố tụng:

Ông Huỳnh Xuân G đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Huỳnh Xuân G vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Xuân G.

[3] Về hôn nhân: Giữa bà Nguyễn Thị Ch và ông Huỳnh Xuân G là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xem xét yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ch, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẩn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Mặt khác, sau khi Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án, bà Ch và ông G cũng không tạo điều kiện để cả hai có thể chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau, mỗi người chỉ lo cho bản thân. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị Ch không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Ch. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Ch là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Nguyễn Thị Ch được ly hôn với ông Huỳnh Xuân G.

[4] Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Huỳnh Nam H và lời trình bày của bà Nguyễn Thị Ch thì bà và ông Huỳnh Xuân G có con chung chưa trưởng thành là cháu Huỳnh Nam H, sinh ngày 09/11/2005, do bà Ch đang nuôi dưỡng, chăm sóc và ý kiến của cháu Hải có nguyện vọng được sống chung với bà Ch. Xét thấy, con chung được bà Ch giáo dục, chăm sóc và được đi học, quyền lợi của con chung được đảm bảo, nên bà Nguyễn Thị Ch yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Nguyễn Thị Ch được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung cháu Huỳnh Nam H, sinh ngày 09/11/2005; ông Huỳnh Xuân G có quyền và ngh a vụ thăm nom con. Bà Nguyễn Thị Chót và các thành viên trong gia đình của bà Nguyễn Thị Chót không được cản trở ông Huỳnh Xuân Giăng thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Bà Nguyễn Thị Ch không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về ngh a vụ cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ch trình bày giữa bà và ông Huỳnh Xuân G không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Huỳnh Xuân G không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án, vắng mặt tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, nên không đối chất được về tài sản chung và nợ chung có hay không, nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[6] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ch là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ch và ông Huỳnh Xuân G.

2.Về nuôi con chung:

2.1.Giao con chung chưa trưởng thành tên Huỳnh Nam H, sinh ngày 09/11/2005 cho bà Nguyễn Thị Ch trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Huỳnh Xuân G có quyền và ngh a vụ thăm nom con. Bà Nguyễn Thị Ch và các thành viên trong gia đình của bà Nguyễn Thị Ch không được cản trở ông Huỳnh Xuân G thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

2.2.Bà Nguyễn Thị Ch không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ch trình bày tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

4.Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ch phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005048 ngày 06 tháng 3 năm 2018 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị Ch đã nộp đủ.

5.Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ch có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Huỳnh Xuân G vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


38
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2018/HNGĐ-ST ngày 06/08/2018 về tranh chấp ly hôn giữa bà Ch và ông G

Số hiệu:66/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Long Xuyên - An Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/08/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về