Bản án 66/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH - TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 66/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26/9/2017, tại nhà văn hóa khu dân cư TH I, phường S, thị xã C, tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương mở phiên toà lưu động xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2017/HSST ngày 06/9/2017 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H, sinh năm 1983 ; nơi ĐKNKTT : Thôn TL, xã BĐ,huyện KM, tỉnh Hải Dương; nghề  nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá:06/12; Con ông Trần Quang Đ (đã chết) và bà Bùi Thị K; có vợ là Nguyễn Thị QA và có 02 con; tiền án, tiền sự : Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/7/2017, tạm giam ngày 07/7/2017 tại Trại giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dương.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại : Ông Phạm Văn B, sinh năm 1958. Địa chỉ : Thôn CL 2, xã NH, thị xã C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NHẬN THẤY

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 04/7/2017, Trần Văn H đi nhờ xe của Trần Văn V từ nhà ở huyện KM sang huyện LT, Bắc Ninh. Trước khi đi, H chuẩn bị một vam phá khóa hình chữ T có đặc điểm: dài 08 cm, một phần tay công hình chữ T được tháo dời, mũi vam được làm bằng đầu tô vít, một đầu có hình lục giác, một đầu được mài dẹt mục đích xem trên đường đi có ai sơ sở thì trộm cắp bán lấy tiền. V không biết H mang theo vam phá khóa để trộm cắp. Đến đoạn đường đê NH trên đường xuống đò sang LT, Bắc Ninh thì H bảo V đi về, còn H đi bộ sang bến đò. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, H đi bộ từ bến đò trên đoạn đường đê thuộc thôn CL 2, xã NH, thị xã C, tỉnh Hải Dương, H phát hiện thấy 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave nữ, biển kiểm soát 34P1-1109 của ông Phạm Văn B đang làm ruộng cách đó 20m. Xe dựng trên bờ đê, hầu xe hướng xuống phía cánh đồng. H quan sát xung quanh không có ai, ông B mải làm ruộng không để ý, H nảy sinh ý định trộm cắp xe máy. H lại gần chiếc xe máy, dùng tay phải cắm phần mài dẹt của mũi vam phá khóa đưa vào ổ khóa, vặn theo hướng cùng chiều kim đồng hồ, tay trái giữ tay lái xe, ổ khóa bị xoay đi, đèn trên đồng hồ xe báo sáng. H ngồi lên xe nổ máy thì bị ông B phát hiện đuổi bắt. H điều khiển xe máy chạy trên đường đê xã NH được khoảng 200m thì H bỏ lại xe và chạy thì bị lực lượng quần chúng nhân dân đuổi kịp, bắt giữ. Trên đường bỏ chạy, H vứt chiếc vam phá khóa dọc đường, hiện tìm thấy 01 thanh kim loại hình lục giác, một đầu được đánh dẹt, còn tay công kim loại không tìm thấy.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 131/HDĐG ngày 05/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Chí Linh kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe nữ, biển số 34P1-1109 tại thời điểm ngày 04/7/2017 có giá trị là 7.229.000đ.

Tại phiên toà: Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của VKS và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Toà án: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76; Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt Trần Văn H từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2017.Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng: Tịch thu cho và tiêu hủy 01 thanh kim loại hình lục giác, một đầu được đánh dẹt, dài 10cm.Về án phí: Bị cáo Huynh phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ, phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, nên có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 04/7/2017, tại đường đê thuộc thôn CL 2, xã H, thị xã C, tỉnh Hải Dương, Trần Văn H đã có hành vi lén lút dùng vam phá khóa mở khóa điện chiếm đoạt của ông Phạm Văn B, trú tại thôn CL2, xã NH, thị xã C, tỉnh Hải Dương 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS 34P1- 1109, trị giá 7.229.000đ

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, tạo sự hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý và bảo vệ tài sản. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý chuẩn bị công cụ phạm tội, thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích tư lợi. Chiếc xe mô tô bị cáo chiếm đoạt trị giá 7.229.000đ. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS. Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, ăn năn hối lỗi với hành vi của mình nên bị cáo được 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Tại bản án số 50/2014/HSST ngày 25/8/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt Trần Văn Huynh 12 tháng tù. Huynh chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/4/2015 và án phí hình sự sơ thẩm ngày 14/4/2015. Bị cáo đã không lấy đó là bài học để tu dưỡng bản thân mà lại thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS 34P1- 1109 mà bị cáo chiếm đoạt đã trả lại cho ông Phạm Văn B, ông B không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự nên không đặt ra giải quyết. Đối với 01 thanh kim loại hình lục giác, một đầu được đánh dẹt dài 10 cm không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy là phù với điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Đối với anh Trần Văn V có hành vi chở H đến bến đò NH, anh V không biết việc H chuẩn bị công cụ và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không đặt ra xử lý.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; p khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/7/2017.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 thanh kim loại hình lục giác, một đầu được đánh dẹt, dài 10 cm (Toàn bộ vật chứng trên Chi cục thi hành án 01/9/2017 giữa cơ quan điều tra Công an T.X Chí Linh và Chi cục Thi hành án dân sự T.X Chí Linh).

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ông Phạm Văn B vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những nội dung trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


96
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 66/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:66/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:26/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về