Bản án 65/2020/HNGĐ-ST ngày 10/09/2020 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH BẾN TRE, TỈNH BN TRE

BẢN ÁN 65/2020/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2020 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 10 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 235/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2020 về việc “Xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/QĐXX-ST ngày 17 tháng 7 năm 2020, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2020 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa s 12/2020/QĐST-HNGĐ ngày 11/8/2020 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1963 (có mặt);

Nơi ĐKHKTT: số 141E1 Đường số 1, Khu phố MT, Phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;

Nơi cư trú: số 58/9 đường TT, Khu phố B, thị trấn BT, huyện BT, tỉnh Bến Tre;

* Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1963 (vắng mặt);

Nơi cư trú: số 141E1 Đường số M, Khu phố MT, Phường B, thành phố BT, tỉnh Bến Tre;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyên Văn T trình bày:

Ông và bà Lê Thị Thanh H kết hôn với nhau năm 1990 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn BT, huyện BT, tỉnh Bến Tre vào ngày 19/02/1990. Hôn nhân do tự nguyện, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng trong thời gian đầu thì hạnh phúc. Vợ chồng cùng ở khu tập thể Công an tỉnh Bến Tre sau đó cất nhà riêng ở. Nhưng sau đó đến năm 2003 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có con, quan niệm sống, cách nhìn và cách cư xử trong các quan hệ gia đình và xã hội không hợp nhau, không đồng quan điểm nên thường xuyên cải vả nhau gay gắt. Vợ ông không quan tâm chăm sóc ông khi bệnh nằm viện mặc dù khi vợ ông bệnh nằm viện thì ông vẫn chăm sóc vợ. Ông cũng đã cố gắng hàn gắn lại tình cảm gia đình nhưng vẫn không hàn gắn lại được. Vợ chồng ông đã ly thân với nhau từ 05 năm nay. Hiện nay, ông đã chuyển về nhà mẹ ông ở huyện BT sinh sống. Nay, ông nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung cũng đã mất, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin được ly hôn.

Quá trình chung sống vợ chồng không có con chung nên năm 2000 vợ chồng ông có nhận nuôi 01 đứa con nuôi tên Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 10/02/1997. Hiện nay, con chung đã trưởng thành, đã lập gia đình sống tại thành phố Hồ Chí Minh.

Về tài sản chung: Chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về nợ chung: Vợ chồng ông có nợ bà Lê Thị B và ông Bùi Minh K số tiền 180.000. 000(một trăm tám mươi triệu)đồng;

Bà Lê Thị Thanh H được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đến Tòa án 01 lần, bà H không viết tự khai nên Tòa án ly lời khai, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng bà H không ký tên vào biên bản ly lời khai và biên bản hòa giải mà bỏ về. Tại phiên tòa ngày 07/8/2020 bà H có mặt và có lời trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của ông T về điều kiện kết hôn cũng như thời điểm kết hôn. Tuy nhiên về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo bà H trình bày là do ông T có quen người phụ nữ khác bên ngoài nên cải vả thường xuyên. Bà không có ly thân với ông T, mà do ông T không ngủ được phòng máy lạnh còn bà ngủ phòng máy lạnh, vì vậy vợ chồng ngủ riêng phòng nhau. Nay ông T xin ly hôn, bà không đồng ý xin ly hôn vì vợ chồng bà không có mâu thuẫn gì với nhau.

- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên có nhận nuôi 01 người con nuôi tên Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 10/02/1997. Hiện nay, con đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng ông có nợ bà Lê Thị B và ông Bùi Minh K số tiền 180.000. 000(một trăm tám mươi triệu)đồng;

Tòa án tiến hành lấy lời khai bà Lê Thị B và ông Bùi Minh K, bà B trình bày

Vợ chồng ông T và bà H có nợ vợ chồng bà số tiền 180.000.000đồng. Tòa án đã ra thông báo cho ông K và bà B về việc có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H và ông T trả tiền nợ trong vụ án này hay không. Tuy nhiên, đến nay bà B và ông K vẫn không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này. Ông K và bà B có quyền khởi kiện yêu cầu bà H và ông T trả tiền nợ bằng một vụ án khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố BT, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng theo đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành theo đúng quy định pháp luật, riêng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án đến tham gia phiên hòa giải cũng như xét xử. về quan điểm giải quyết vụ án thấy rằng: Ông T và bà H kết hôn và đăng ký kết hôn với nhau nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn giữa ông T với bà H thực tế đã xảy ra, mặc dù cả hai có hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không có kết quả. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông T và bà H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của ông T. Vợ chồng có 01 con nuôi chung tên Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 10/02/1997 đã trưởng thành, về tài sản chung: hai bên tự thỏa thuận; về nợ chung: bà B và ông K không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét đây là vụ án xin ly hôn, bị đơn hiện cư trú tại Phường B, thành phố BT nên căn cứ Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố BT, tỉnh Bến Tre là có căn cứ, đứng quy định pháp luật.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố BT đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 07/8/2020 bà H có mặt, tuy nhiên Tòa án tạm ngừng phiên tòa để thu thập thêm tài liệu chứng cứ về nợ chung. Tòa án đã tống đạt hợp lệ triệu tập cho bà H tham gia phiên tòa lần thứ 3 nhưng bà H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H là đúng quy định pháp luật.

[3] Ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Thanh H kết hôn và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân thị trấn BT, huyện BT, tỉnh Bến Tre ngày 19/02/1990 nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng thì bà H và ông T khai không thống nhất nhau. Theo ông T trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có con, quan niệm sống, cách nhìn và cách cư xử trong các quan hệ gia đình và xã hội không hợp nhau, không đồng quan điểm, không quan tâm chăm sóc nhau nên thường xuyên cải vả nhau. Vợ chồng bà đã ly thân với nhau từ năm 2015 cho đến nay. Bà H trình bày, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T có người phụ nữ khác bên ngoài nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh. Bà H cho rằng vợ chồng bà không có ly thân nhau. Hiện nay, ông T đã về nhà mẹ ông ở huyện BT sinh sống. Ông T xác định nay không còn tình cảm với bà H nên yêu cầu ly hôn. Bà H không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có biện pháp nào để hàn gắn lại hạnh phúc gia đình mình.

[4] Xét thấy mâu thuẫn giữa ông T với bà H thực tế đã xảy ra. Qua xác minh tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân của vợ chồng ông T và bà H, em gái ông T và em trai bà H cho biết, ông T và bà H có mâu thuẫn với nhau từ lâu nhưng cả hai không có cách nào hàn gắn lại tình cảm vợ chồng; Tòa án tiến hành mở phiên tòa lần thứ 2 và thứ 3 nhưng bà H vẫn vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ bà H có thái độ bỏ mặc và không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân của vợ chồng bà. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông T với bà H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cầu xin ly hôn của ông T đối với bà H là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con nuôi chung tên Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 10/02/1997, đã trưởng thành.

[6] Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về nợ chung: Vợ chồng ông T, bà H có nợ bà Lê Thị B và ông Bùi Minh K số tiền 180.000.000đồng, tuy nhiên ông K và bà B không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà Lê Thị B và ông Bùi Minh K có quyền khởi kiện yêu cầu bà H và ông T trả tiền nợ bằng một vụ án khác.

[8] Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Văn T phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ các Điều 28, 35 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Văn T cụ thể tuyên:

- Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T được ly hôn bà Lê Thị Thanh H.

- Về con chung: Có 01 con nuôi chung tên Nguyễn Hoàng Anh D, sinh ngày 10/02/1997, đã trưởng thành;

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về nợ chung: Vợ chồng ông T, bà H có nợ bà Lê Thị Bên và ông Bùi Minh Khiêm số tiền 180.000.000đồng, tuy nhiên ông Khiêm và bà Bên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà Lê Thị Bên và ông Bùi Minh Khiêm có quyền khởi kiện yêu cầu bà H và ông T trả tiền nợ bằng một vụ án khác.

- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000(Ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Văn T phải nộp nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011913 ngày 01/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm được quyền kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.


6
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2020/HNGĐ-ST ngày 10/09/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:65/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:10/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về