Bản án 65/2019/HS-ST ngày 23/07/2019 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 65/2019/HS-ST NGÀY 23/07/2019 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 85/2019/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2019/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lưu Quốc Đ (tên thường gọi là Tí Nị); Sinh ngày: 23/10/1991; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Không xác định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Không rõ và bà: Lưu Thị U; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 02/3/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 105/2017/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 07/6/2018 (Giấy chứng nhận về việc chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc số: 304/GCN-CS1 ngày 25/5/2018 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 1); Bị bắt, tạm giam ngày 17/01/2019.

Nhân thân:

- Ngày 12/11/2006, bị Công an Phường 9, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cảnh cáo nhắc nhở về hành vi trộm cắp tài sản.

- Ngày 26/01/2007, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 9, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường 03 tháng về hành vi trộm cắp tài sản (Quyết định số: 15/QĐ-UB).

(có mặt)

2. Trần Minh P; Sinh ngày: 13/11/1996; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 445B/1 đường HG, Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Làm công; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Minh P1 và bà: Lê Thị Bích T; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 12/01/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 13/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 20/8/2018 (Giấy chứng nhận về việc chấp hành xong Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc số: 698/CN-CS2 ngày 14/7/2018 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 2); Bị bắt, tạm giam ngày 19/01/2019.

Nhân thân: Ngày 23/7/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội «Cướp giật tài sản» (Bản án số: 85/2014/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/12/2015 và hình phạt bổ sung ngày 13/5/2015 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 1957/GCN của Trại giam Thủ Đức và Công văn số: 923/CCTHA ngày 13/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh).

(có mặt)

- Bị hại:

Bà Trần Thanh V; Sinh năm: 1984; Trú tại: 224/30 đường PVC, Phường D, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Ngọc L; Sinh năm: 1968; Thường trú: 445B/1 đường HG, Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 431/6F đường HG, Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại Phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, nên khoảng 19 giờ ngày 02/01/2019, Lưu Quốc Đ rủ Trần Minh P đi tìm tài sản cướp giật. Sau khi đồng ý, P điều khiển xe gắn máy biển số 59K2-201.81 chở Đ lưu thông qua nhiều tuyến đường trên địa bàn Quận 6 để tìm người có tài sản. Khi đến trước nhà số 224/30 đường PVC, Phường D, Quận F, cả Đ và P đều phát hiện bà Trần Thanh V đang đứng trước nhà này, trên tay bà Vân có cầm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu đen. P liền cho xe chạy lên áp sát bà Vân để Đ ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại của bà V. Xong P vọt xe tẩu thoát, nhưng chỉ chạy được khoảng 20 mét thì cả hai bị những người xung quanh phát hiện đạp ngã xe. Đ và P liền bỏ xe và chiếc điện thoại vừa giật được của bà V lại rồi chạy bộ tẩu thoát.

Qua truy xét, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã bắt giữ Lưu Quốc Đ, Trần Minh P. Qua đấu tranh, Đ và P đều khai nhận đã thực hiện hành vi nêu trên.

Bị hại và người làm chứng khai cũng tương tự.

Tại Văn bản số: 699/TCKH ngày 10 tháng 5 năm 2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 thống nhất giá như sau: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu đen, có giá là: 6.500.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 74/CT-VKS-Q6 ngày 28 tháng 5 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P về tội «Cướp giật tài sản» theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại Phiên tòa: Các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P đều khai nhận chính các bị cáo, đã sử dụng xe gắn máy loại xe Honda Lead, màu vàng nâu, biển số 59K2-201.81 thực hiện hành vi giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone màu đen của bà Trần Thanh V tại trước nhà số 224/30 đường PVC, Phường D, Quận 6 vào tối ngày 02/01/2019 như nội dung bản cáo trạng nêu;

Bị hại Trần Thanh V khai cũng tương tự và xác nhận Cơ quan điều tra đã trả chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu đen lại cho bà. Nay, bà không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Phạt bị cáo Lưu Quốc Đ từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù về tội «Cướp giật tài sản» theo điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Phạt bị cáo Trần Minh P từ 04 năm đến 05 năm tù về tội «Cướp giật tài sản» theo điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Không phạt tiền đối với các bị cáo, do các bị cáo không có khả năng thi hành.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Trần Thanh V không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.

Lời nói sau cùng, các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật và đều xin Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại Phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]  Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại Phiên tòa, các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]  Đối chiếu lời khai của các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P; của bị hại Trần Thanh V tại Phiên tòa là phù hợp với nhau và phù hợp với Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 25/4/2019 của Công an Quận 6; lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P đã phạm tội «Cướp giật tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P đã dùng xe môtô làm phương tiện để cướp giật của bà Trần Thanh V 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu đen trị giá 6.500.000 đồng, là phạm tội «Cướp giật tài sản» thuộc trường hợp: «Dùng thủ đoạn nguy hiểm» theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi của các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P là liều lĩnh, không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an chung mà còn có thể gây hậu quả khó lường cho tính mạng, sức khỏe của bị hại và của những người tham gia lưu thông nơi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.

Các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P đều là những người đã trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra, nhưng do tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3]  Trong vụ án, bị cáo Lưu Quốc Đ là người chủ động rủ rê và trực tiếp chiếm đoạt tài sản. Còn bị cáo Trần Minh P là người giúp sức tích cực cho bị cáo Lưu Quốc Đ thực hiện hành vi phạm tội. Tuy các bị cáo có thống nhất cùng nhau thực hiện tội phạm, nhưng không có sự câu kết chặt chẽ, nên hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là đồng phạm giản đơn.

[4]  Bị cáo Lưu Quốc Đ, ngày 02/3/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy. Bị cáo Trần Minh P ngày 12/01/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 6 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy.

[5]  Ngoài ra, các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P còn có nhân thân xấu, đó là ngày 12/11/2006, bị cáo Lưu Quốc Đ bị Công an Phường I, Quận F cảnh cáo nhắc nhở về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 26/01/2007, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường I, Quận F quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường 03 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Còn bị cáo Trần Minh P ngày 23/7/2014, bị Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội «Cướp giật tài sản». Cho thấy, các bị cáo tuy đã được cải tạo, giáo dục nhiều lần, nhưng các bị cáo vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục sống buông thả để ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội.

[6]  Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P là rất nghiêm trọng, bởi cướp giật tài sản từ lâu đã trở thành vấn nạn nhức nhối, trở thành nỗi ám ảnh của không ít người dân, gây bức xúc trong dư luận, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt các bị cáo những mức án thật nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản đã được thu hồi trả bị hại); tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình tùy theo tính chất, mức độ, vai trò tham gia của từng bị cáo theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7]  Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng. Xét các bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]  Việc bồi thường thiệt hại: Tại Phiên tòa, bà Trần Thanh V xác nhận Cơ quan điều tra đã thu hồi chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu đen trả cho bà và không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[9]  Việc xử lý vật chứng: Chiếc xe gắn máy biển số 59K2-201.81, số khung RLHJF7917HY053685, số máy JF79E0075978 (loại xe hai bánh từ 50­175cm3, nhãn hiệu Honda, số loại Lead, sơn màu Vàng Nâu, dung tích 125) mà các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P sử dụng làm phương tiện phạm tội, Cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Ngọc L, nên đã xử lý trả lại cho bà Liên (theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 14/4/2019 - BL141) và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát không đề nghị xử lý, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[10] Các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố các bị cáo Lưu Quốc Đ (Tí Nị), Trần Minh P phạm tội «Cướp giật tài sản».

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lưu Quốc Đ (Tí Nị) 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2019.

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trần Minh P 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2019.

- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo Lưu Quốc Đ, Trần Minh P; bị hại Trần Thanh V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại Phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.


40
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2019/HS-ST ngày 23/07/2019 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:65/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 6 - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/07/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về