Bản án 65/2018/DS-ST ngày 17/08/2018 về tranh chấp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 65/2018/DS-ST NGÀY 17/08/2018 VỀ TRANH CHẤP HỤI

Ngày 17 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 102/2018/TLST-DS ngày 09 tháng 4 năm 2018 về “tranh chấp hụi”  theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 230/2018/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Thị T, sinh năm 1967

Nơi cư trú: Ấp TT, xã TD, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Đỗ Văn K và bà Trần Thị Bé N, sinh năm 1978

Nơi cư trú: Ấp BĐ, xã TP, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.

Tại phiên Tòa, bà T có mặt, ông K và bà N vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Bà Huỳnh Thị T trình bày:

Bà Trần Thị Bé N và ông Đỗ Văn K có tham gia ba dây hụi do bà làm chủ cụ thể như sau;

Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 25/01/2013al, loại hụi 300.000đ/tháng, dây hụi gồm có 51 chưng, bà N và ông K tham gia hai chưng. Bà N, ông K đã hốt chưng thứ nhất vào lần khui thứ 8, hốt chưng thứ hai vào lần khui thứ 11, sau khi hốt bà N và ông K đóng đến lần thứ 18 thì ngưng đóng, còn lại 33 lần chưa đóng. Dây hụi này đã mãn, bà N và ông K còn thiếu bà số tiền 9.900.000đ  x 2 chưng  = 19.800.000 đồng.

Dây hụi thứ hai: Mở ngày 10/7/2013al, loại hụi 300.000đ/tháng, dây hụi gồm có 46 chưng, bà N và ông K tham gia một chưng. Bà N, ông K đã hốt vào lần khui thứ 5, sau khi hốt bà N và ông K đóng đến lần thứ 12 thì ngưng đóng, còn lại 34 lần chưa đóng. Dây hụi này đến nay đã mãn, bà N và ông K còn thiếu bà số tiền 10.200.000đ.

Dây hụi thứ ba: Mở ngày 15/4/2014 al, loại hụi 500.000đ/tháng, dây hụi gồm có 20 chưng, bà N và ông K tham gia một chưng. Bà N, ông K đã hốt vào lần khui thứ 2, sau khi hốt bà N và ông K không đóng hụi chết, còn lại 18 lần chưa đóng. Dây hụi này, bà N và ông K còn thiếu bà số tiền 9.000.000đ.

Tổng số tiền hụi của ba dây hụi bà N và ông K thiếu bà là 39.000.000đ. Bà N và ông K đã trả cho bà 6.400.000đ, còn nợ lại 32.600.000đ.

Bà T yêu cầu bà N và ông K trả số tiền nợ hụi là 32.600.000 đồng.

Bà Trần Thị Bé N trình bày:

Bà N thống nhất lời trình bày của bà T về số chưng hụi trong ba dây hụi bà tham gia và số tiền nợ hụi bà Thủy 32.600.000 đồng, bà đồng ý trả số tiền nợ hụi nêu trên, nhưng yêu cầu được trả mỗi tháng 1.000.000 đồng. Bà là người trực tiếp tham gia hụi với bà T, ông K hoàn toàn không tham gia, ông K có biết bà tham gia hụi và ông K có đóng hụi cho bà T, bà sử dụng số tiền hốt hụi để chi phí cho sinh hoạt trong gia đình và khi bà T thu tiền hụi chết ông K cũng đồng ý làm trả nợ.

Ông Đỗ Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Bé N và ông Đỗ Văn K đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông K và bà N là phù hợp.

[2] Về số tiền nợ hụi: Bà Huỳnh Thị T và bà Trần Thị Bé N thống nhất bà N có tham gia bốn chưng hụi trong ba dây hụi mở ngày 25/01/2013 al, ngày 10/7/2013 al và ngày 15/4/2014 al do bà T làm chủ, các dây hụi này đến nay đã mãn, bà T đã góp các phần hụi thay cho bà N. Tổng số nợ của ba dây hụi là 39.000.000 đồng, bà N đã trả được 6.400.000 đồng, còn nợ lại 32.600.000 đồng. Xét thấy, giao dịch hụi giữa bà T với bà N là hoàn toàn tự nguyện, nhằm mục đích tương trợ giữa những người tham gia góp hụi và phù hợp với quy định của pháp luật, nên có đủ có sở xác định bà N còn nợ bà thủy số tiền hụi 32.600.000 đồng.

[3] Về nghĩa vụ trả nợ: Bà N xác định bà là người trực tiếp tham gia hụi với bà T, ông K hoàn toàn không tham gia nên ông K không có trách nhiệm trả nợ cho bà T. Hội đồng xét xử xét thấy: Ông K đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng ông K vẫn vắng mặt và không có ý kiến giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà T. Đồng thời, ông K có biết bà N tham gia hụi do bà T làm chủ và có đóng hụi cho bà T, bà N sử dụng số tiền hốt hụi để chi phí cho sinh hoạt trong gia đình, ông K, bà N vẫn còn tồn tại quan hệ vợ chồng và khi bà T thu tiền hụi chết ông K cũng đồng ý làm trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định đây là khoản nợ chung của bà N, ông K.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 30 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, buộc bà N và ông K có trách nhiệm trả cho bà T số tiền nợ hụi 32.600.000 đồng.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N và ông K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 479 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị T. Buộc bà Trần Thị Bé N và ông Đỗ Văn K trả cho bà T số tiền nợ hụi 32.600.000đ (ba mươi hai triệu sáu trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị Bé N và ông Đỗ Văn K phải chịu 1.630.000 đồng (chưa nộp). Bà Huỳnh Thị T không phải chịu, bà T đã nộp tạm ứng án phí số tiền 815.000 đồng tại biên lai thu số 0009810 ngày 09/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Huỳnh Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Đỗ Văn K và bà Trần Thị Bé N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 65/2018/DS-ST ngày 17/08/2018 về tranh chấp hụi

Số hiệu:65/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về