Bản án 64/2021/HS-PT ngày 14/01/2021 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 64/2021/HS-PT NGÀY 14/01/2021 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Ngày 14 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2020/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo Lê Quốc H về tội “Giết người”.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2020/HS-ST ngày 27-9-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Quốc H, sinh năm 1979, tại thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Khối phố 5, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Nhân viên án hàng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu Th, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1952; có vợ là Võ Thị Bích Th1, sinh năm 1979; có 04 con (con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/3/2020; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên tòa.

1 - Người bào chữa cho bị cáo Lê Quốc H: Ông Trương Ngọc Tr – Luật sư của Văn phòng Luật sư N, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Nam, ào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; có mặt.

- Bị hại: Chị Huỳnh Trương Như N1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Khối phố 2, phường A1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Võ Thị Bích Th1, sinh năm 1979; nơi cư trú: Khối phố H1, phường H2, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

2. Chị Phan Thị Ánh T1, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn N2, xã T2, huyện P, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Hồ Quế P1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Khối phố 2, phường P2, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

2. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1965; nơi cư trú: Khối phố 4, phường A1, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

3. Ông Huỳnh N3, sinh năm 1974; nơi cư trú: Khối phố H4, phường H2, thành phố T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 9/2019, bà Võ Thị Bích Th1 có mượn của chị Phan Thị Ánh T1 số tiền 30.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ, bà Th1 không trả số tiền trên nên chị T1 nhiều lần gọi điện thoại và đến nhà bà Th1 để đòi nợ. Trưa ngày 24/12/2019, chị T1 trực tiếp đến nhà bà Th1 để đòi tiền nhưng không có bà Th1 ở nhà nên chị T1 đã dùng cây gỗ đập vào cánh cửa kính nhà bà Th1 làm nứt kính, rồi đi về và điện thoại nói cho bà Th1 biết sự việc chị đến nhà bà Th1 đòi nợ.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 24/12/2019, bà Th1 gọi điện thoại cho chồng là Lê Quốc H, kể lại sự việc chị T1 đến nhà đập phá cửa kính. Đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 24/12/2019, Lê Quốc H đi làm về nhìn thấy cửa kính nhà bị nứt thì rất bực tức nên lấy một cái “Kéo” lưỡi bằng kim loại, phần cán “Kéo” bọc nhựa màu đen, dài khoảng 20 cm ở trong cặp của con gái mình (tức là cháu Lê Võ Tú U, sinh năm 2002) bỏ vào cốp xe mô tô biển kiểm soát 92N1- 264.86, với mục đích nếu gặp chị T1 ở ngoài đường thì sẽ đâm chị T1. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92N1- 264.86 đi đến nhà ông Huỳnh N4 (tên thường gọi là Bi, trú tại khối phố H4, phường H2 là bạn của H) để chở ông N4 đến quán nhậu (không nhớ tên quán) trên đường H5, thành phố T uống bia. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, H và ông N4 uống hết 07 lon bia thì nghỉ không uống nữa. H chở ông N4 về nhà ông N4, còn H đi đón con đi học về.

Trên đường đi về khi ngang qua trước quán sinh tố T4 (địa chỉ: Số 386 đường H6 thuộc Khối phố 5, phường A, thành phố T) thì H nhìn thấy chị Huỳnh Trương Như N1 đang ngồi ăn bún tại vỉa hè, gần quán sinh tố T4. Do chị N1 ngồi xoay mặt hướng vào trong quán còn lưng hướng ra đường nên H nhầm tưởng chị N1 là chị Phan Thị Ánh T1 (người cho bà Th1 vợ H mượn tiền). H dừng xe lại, mở cốp xe lấy cái “Kéo” ra cầm trên tay phải rồi chạy đến vị trí chị N1 đang ngồi ăn bún, dùng tay trái ôm ngang vai chị N1, tay phải cầm “Kéo” đâm mạnh nhiều nhát liên tục vào người chị N1 thì trúng vùng lưng, hông trái và cánh tay trái của chị N1 gây thương tích. Bất ngờ bị đâm nên chị N1 la lên:“Tự nhiên anh đâm em”, lúc này H quay lại nhìn thì mới biết là H đã đâm nhầm người khác (không phải chị T1) nên dừng lại, vứt bỏ cái “Kéo” xuống đất rồi gọi xe taxi đến chở chị N1 đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam cấp cứu và điều trị thương tích.

* Tại Bản giám định thương tích số 38/GĐTT.20 ngày 10/02/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam đã mô tả và kết luận tỷ lệ thương tích của chị Huỳnh Trương Như N1 cụ thể như sau:

- thương tích chi tiết: Vùng lưng, tương ứng cung sau khoang gian sườn X, XI có vết rách thủng da và c đã lành sẹo dài 1,3cm, rộng 0,2cm. Vùng ngực bên trái, tương ứng cung bên khoang gian sườn V, VI trên đường nách giữa có vết mổ dẫn lưu đã lành sẹo dài 2,3cm, rộng 0,3cm. Vùng hông trái, sát trên mào chậu có vết rách da đã lành để lại sẹo thâm, lồi dài 1,3cm, chỗ rộng nhất 0,6cm. Cách trước vết rách da này 1,5cm có vết xát da đã lành sẹo dài 1,6cm, rộng 0,2cm. Mặt trước đoạn 1/3 dưới cánh tay phải có vết rách da và cắt đã lành để lại sẹo lồi hình chữ S, dài 4,5cm, rộng 0,3cm. Sờ nắn tổ chức dưới da vùng vết thương chắc. Vận động gấp cẳng tay được ình thường. Mặt trước ngoài đoạn 1/3 trên cẳng tay phải có vết rách da và cắt đã lành để lại sẹo lồi dài 2,2cm, rộng 0,2cm. Mặt ngoài đoạn 1/3 trên đùi trái có vết rách thủng da đã lành sẹo dài 0,9cm, rộng 0,3cm.

- Kết luận: Tổn thương chủ yếu hiện tại còn thấy được ở trên ệnh nhân là các vết rách da, cắt , xát da và vết mổ như đã nêu trên. Vết thương thấu ngực trái gây thủng phổi trái ở thùy dưới, tràn dịch màng phổi trái, tràn khí dưới da vùng lưng ngực bên trái đã được phẩu thuật dẫn lưu khoang màng phổi trái tạm ổn. Không tổn thương xương. Không thấy dấu hiệu thần kinh khu trú. Hiện tại bệnh nhân còn đau nhẹ vùng ngực trái, rì rào phế nang nghe giảm nhẹ ở đáy phổi trái so với phổi phải. Tỷ lệ thương tích tại thời điểm hiện tại là 16 % (các bút lục số:102 - 107).

- Tại Công văn số 93/GĐPY ngày 11/6/2020 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Nam về việc xác định vật gây thương tích và cơ chế gây ra thương tích trên người chị Huỳnh Trương Như N1 đã nhận định: Tất cả các vết thương trên người chị N1 (trừ vết thương vùng ngực bên trái, tương ứng khoang gian sườn V, VI trên nách giữa có vết mổ dẫn lưu đã lành sẹo dài 2,3cm, rộng 0,3cm) đều do vật sắc cạnh có mũi nhọn tác động gây nên. Trong đó: “Vết thương vùng lưng, tương ứng cung khoang gian sườn X, XI, thấu ngực trái gây thủng phổi trái ở thùy dưới, tràn dịch màng phổi trái, tràn khí dưới da vùng lưng ngực bên trái có thể gây nguy hiểm đến tính mạng nếu không được xử lý kịp thời. Trong trường hợp này đã được xử lý bằng phẫu thuật khâu vết thương cầm máu, dẫn lưu khoang màng phổi trái kịp thời nên không gây nguy hiểm đến tính mạng”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2020/HS-ST ngày 27/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam quyết định:

Tuyên bố bị cáo Lê Quốc H phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm a, , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, ổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc H 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 25/3/2020).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/10/2020, bị cáo Lê Quốc H có đ n kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm :

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng sau khi gây án, phát hiện bị hại không phải là chị T1 nên bị cáo chủ động gọi xe tắc xi đưa bị hại đi cấp cứu nên giảm nhẹ thương tích; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà N ng phát iểu cho rằng sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Quốc H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 24/12/2019, do bực tức việc chị Phan Thị Ánh T1 đến nhà đòi nợ và đập nứt cửa kính nên bị cáo nảy sinh ý định dùng kéo đâm chị T1 để trả thù. Khi nhìn thấy chị Huỳnh Trương Như N1 đang ngồi ăn bún tại vỉa hè, bị cáo đã nhầm tưởng chị N1 là chị T1 nên đã dùng kéo đâm nhiều nhát (06 nhát) vào người chị N1, dẫn đến hậu quả làm cho chị N1 bị thương tích 16%, trong đó có vết thương thấu ngực, thủng phổi; việc bị hại Huỳnh Trương Như N1 không chết mà ị thương tích 16 % là do được đưa đi cấp cứu kịp thời, nằm ngoài ý muốn của bị cáo.

[2] Hành vi và hậu quả gây ra nêu trên của bị cáo Lê Quốc H đã phạm vào tội: “Giết người” với tình tiết định khung tăng nặng: “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản án sơ thẩm đã qui kết là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt; sau khi gây án, bị cáo đã chủ động, nhanh chóng cùng người dân đưa ị hại đi cấp cứu, điều trị kịp thời nên không gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại và ra đầu thú; quá trình điều tra vụ án đã thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính; gia đình đã bồi thường cho bị hại với số tiền 22.000.000 đồng; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và áp dụng quy định tại các điểm a, b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo, đồng thời, áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và xử phạt 07 năm tù là tương xứng với tính chất và mức độ, hậu quả hành vi phạm tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở giảm hình phạt.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không ị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Quốc H;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2020/HS-ST ngày 27-9-2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.

1. Tuyên ố bị cáo Lê Quốc H phạm tội: “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm a, , s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Lê Quốc H 07 (bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 25/3/2020).

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Bị cáo Lê Quốc H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


18
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

     Bản án 64/2021/HS-PT ngày 14/01/2021 về tội giết người

    Số hiệu:64/2021/HS-PT
    Cấp xét xử:Phúc thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:14/01/2021
    Là nguồn của án lệ
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về