Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 22/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH

BẢN ÁN 64/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 22/07/2019 tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TH, xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ l số: 475/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 06 năm 2019 về việc “Tranh chấp Ly hôn“. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXX-ST ngày 08 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1985

Địa chỉ: Xóm Gò Chè, xã Cao Ngạn, TP. TH, tỉnh TH

Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1986

Địa chỉ: Xóm Gò Chè, xã Cao Ngạn, TP. TH, tỉnh TH (Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn xin ly hôn, tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày: Năm 2015 chị có đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Mạnh K, trước khi kết hôn hai bên có được tìm hiểu, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Ngạn, thành phố TH, tỉnh TH. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, quan điểm sống không phù hợp. Vợ chồng sống ly thân khoảng hai tháng nay không quan tâm đến nhau nữa. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không cải thiện được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh Nguyễn Mạnh K + Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 14/11/2015. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết + Về tài sản chung, nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Mạnh K trình bày: Năm 2015 anh có đăng ký kết hôn với chị Hoàng Thị L, trước khi kết hôn hai bên có được tìm hiểu, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và đăng ký kết hôn tại UBND xã Cao Ngạn, thành phố TH, tỉnh TH. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, quan điểm sống không phù hợp, chị L ngoại tình với người đàn ông khác nên xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân khoảng tháng 4/2019 đến nay và không còn quan tâm đến nhau nữa. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không cải thiện được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhất trí ly hôn với chị Hoàng Thị L

+ Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thị Hải Yến, sinh ngày 14/11/2015. Khi ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

+ Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần tuy nhiên các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án, do vậy vụ án được đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chị L và anh K đều có địa chỉ cư trú tại thành phố TH, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TH theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung: Chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Mạnh K kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Cao Ngạn, thành phố TH, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc gì. Do vậy thừa nhận đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống anh chị đã có một con chung là Nguyễn Thị Hải Yến, sinh ngày 14/11/2015. L do chị L làm đơn xin ly hôn là do hai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, không có tiếng nói chung. Chị L và anh K đã ly thân từ khoảng tháng 4 năm 2019 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau nữa.

Hi đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa ngày hôm nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc chị đề nghị được ly hôn với anh K.

Tại phiên hòa giải, tại phiên tòa anh K thừa nhận trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung, quan điểm sống không phù hợp, chị L ngoại tình với người đàn ông khác. Vợ chồng sống ly thân khoảng tháng 4/2019 đến nay không quan tâm đến nhau nữa. Khi mâu thuẫn xảy ra đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không cải thiện được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nhất trí ly hôn với chị Hoàng Thị L nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Mạnh K là phù hợp.

[3]. Về con chung: Chị L và anh K cùng có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Thị Hải Yến, sinh ngày 14/11/2015. Hội đồng xét xử thấy, tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2015 quy định:

“ 1. Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của luật này, bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”

Xét về điều kiện chăm sóc giáo dục con chung: Chị L và anh K đều có điều kiện để chăm sóc con chung. Tuy nhiên, cháu Nguyễn Thị Hải Yến hiện tại còn nhỏ, và từ nhỏ đến nay (kể cả thời gian anh chị sống ly thân) đều do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, cháu Yến lại là con gái nên việc chị L chăm sóc con có phần phù hợp hơn . Xét thấy để đảm bảo sự phát triển bình thường của con trẻ, tránh sự xáo trộn cuộc sống không cần thiết. Hội đồng xét xử nên chấp nhận yêu cầu của chị L, giao con chung là Nguyễn Thị Hải Yến, sinh ngày 14/11/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với thực tế và Điều 81 Luật hôn nhân gia đình .

Đi với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị L không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh K có quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

[5]. Về án phí: Chị L phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Các Điều 51, 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13, ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị L và anh Nguyễn Mạnh K.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 14/11/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh K được quyền đi lại thăm nom và chăm sóc con chung.

* Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu, nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết do đương sự không có yêu cầu.

4. Án phí: Chị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, được chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001804 ngày 11/06/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TH.

5. Quyền kháng cáo: Chị L, anh K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


73
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 22/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:64/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về