Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 14/05/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 64/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 837/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Lê Thị Hồng L - Sinh năm 1982 (Có mặt).

Địa chỉ: Số 99, Tôn Thất Thuyết, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Huỳnh Văn Thanh T - Sinh năm 1980 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn bà Lê Thị Hồng L trình bày: bà và ông Huỳnh Văn Thanh T cưới nhau vào năm 2007 đến năm 2008 có đăng ký kết hôn, hôn nhân do mai mối sau đó có tìm hiểu được khoảng 01 năm thì tiến tới hôn nhân. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, mâu thuẫn về tiền bạc, vợ chồng ly thân khoảng 8 năm nay. Thấy tình cảm không còn bà yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn Thanh T. Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Phúc T1 - Sinh ngày 21/02/2009 hiện nay đang sống chung với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản chung: Không có. Về quan hệ nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Huỳnh Văn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do. Nên Tòa án không ghi nhận ý kiến của ông T về nội dung đơn khởi kiện của bà L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Bà Lê Thị Hồng L yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Văn Thanh T. Ông T có nơi cư trú tại ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn ông Huỳnh Văn Thanh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng L và ông Huỳnh Văn Thanh T xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau vào năm 2007 đến năm 2008 có đăng ký kết hôn kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Ông, bà chung sống hạnh phúc khoảng 02 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo bà L trình bày vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, tính tình không phù hợp, mâu thuẫn về tiền bạc. Bà và ông T không còn chung khoảng 8 năm nay. Bà xác định tình cảm quan hệ vợ chồng không thể tồn tại và hàn gắn được; cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông T. Ông T đã được tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc bà L khởi kiện yêu cầu ly hôn và thông báo đến Tòa án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do. Điều này thể hiện vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Hồng L là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về quan hệ con chung: Bà L xác định vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Phúc T1 - Sinh ngày 21/02/2009 hiện nay đang sống với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ lúc vợ chồng ly thân đến nay bà L là người trực tiếp nuôi con chung nên tình cảm, T tư gắn liền với người nuôi dưỡng. Hơn nữa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành ghi nhận ý kiến của cháu Huỳnh Phúc T1. Qua ghi nhận ý kiến cháu Thịnh có nguyện vọng muốn tiếp tục sống với mẹ. Do đó cần để bà L tiếp tục nuôi cháu Huỳnh Phúc T1 là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cũng như nguyện vọng của con.

Do bà Lê Thị Hồng L không yêu cầu ông Huỳnh Văn Thanh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[5] Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận bà Lê Thị Hồng L trình bày không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà Lê Thị Hồng L trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Bà Lê Thị Hồng L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Các Điều 51, 56 và Điều 57, Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Hồng L.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Hồng L được ly hôn với ông Huỳnh Văn Thanh T.

- Về quan hệ con chung: Bà Lê Thị Hồng L được tiếp tục nuôi con chung tên Huỳnh Phúc T1 - Sinh ngày 21/02/2009, ông Huỳnh Văn Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Lê Thị Hồng L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở ông Huỳnh Văn Thanh T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: ghi nhận bà Lê Thị Hồng L trình bày không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: Ghi nhận bà Lê Thị Hồng L xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của ông, bà trong thời kỳ hôn nhân thì bà Lê Thị Hồng L và ông Huỳnh Văn Thanh Tvẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác

- Về án phí: Bà Lê Thị Hồng L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000483 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 24 tháng 12 năm 2018. Bà L đã nộp xong.

Bà Lê Thị Hồng L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Ông Huỳnh Văn Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


78
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2019/HNGĐ-ST ngày 14/05/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:64/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chợ Mới - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:14/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về