Bản án 64/2018/HS-ST ngày 15/05/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 64/2018/HS-ST NGÀY 15/05/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:60/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Thị T (tức Trần Thị Kim T), tên thường gọi là "Bà K", sinh năm 1937 tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường P, phường Đ, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 03/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc H và bà Lê Thị N; chồng Trần Công K (tức T) đã chết, con có 06 người con đều đã trưởng thành; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 25/7/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 02/9/2015 và đã được xóa án tích; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/11/2017 đến nay, có mặt.

Người làm chứng: Anh Hoàng Văn D. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Bà Phạm Hồng L. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 20 phút, ngày 27/11/2017, tại khu vực cổng sau chợ Đ, đường N, phường V, thành phố L, tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn phát hiện bắt quả tang Trần Thị T có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 02 gói giấy nhỏ chứa chất bột màu trắng trong túi tạp dề Trần Thị T đang mặc, 26 gói giấy nhỏ chứa chất bột màu trắng trong túi xách của Trần Thị T, 01 điện thoại di động hiệu NOKIA cũ đã qua sử dụng và 1.700.000 đồng. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công anh thành phố Lạng Sơn khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Thị T tại đường P, phường Đ, thành phố L, thu giữ tại phòng khách

01 túi nilon chứa chất bột màu trắng.

Tại Kết luận giám định số 18/KL-PC54 ngày 29/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột trong 28 gói giấy thu giữ của Trần Thị T và chất bột trong túi nilon thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Thị T đều là chất ma túy Heroine, có tổng trọng lượng 5,609 gam.

Tại bản cáo trạng số 60/KSĐT ngày 06 tháng 4 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, đã quyết định truy tố bị cáo Trần Thị T về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị T khai bị cáo bán hàng nước tại cổng sau chợ Đ đã lâu. Từ tháng 7/2017, bị cáo bắt đầu bán ma túy heroine cho một số đối tượng nghiện đến quán nước hỏi mua. Nguồn gốc số ma túy là do bị cáo mua với một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực cổng siêu thị T, đường P, phường Đ, thành phố L. Lần 1 là vào tháng 7 năm 2017 (bị cáo không nhớ ngày), bị cáo đã mua 01 gói ma túy heroine giá 1.700.000đ đem về san ra thành nhiều gói nhỏ bán lại cho các đối tượng nghiện. Đến đầu tháng 11/2017, bị cáo tiếp tục mua 01 gói ma túy Heroine với giá 4.000.000 đồng cũng với người đàn ông và địa chỉ như nêu trên mang về chia thành 02 phần, 01 phần cất tại nhà và 01 phần chia ra thành nhiều gói nhỏ và mang ra quán nước để bán cho các đối tượng nghiện. Trong các ngày 16 và 17/11/2017, bị cáo đã bán cho Hoàng Văn D tổng 02 lần, mỗi lần 01 gói ma túy với giá 80.000 đồng/gói. Ngoài ra, bị cáo còn bán cho nhiều người nghiện khác nhưng bị cáo không nhớ số lần bán và tên, địa chỉ của người mua ma túy. Ngày 27/11/2017, bị cáo mang theo 28 gói ma túy đi từ nhà ra quán nước tại cổng sau chợ Đông Kinh để bán cho các đối tượng nghiện thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Người làm chứng anh Hoàng Văn D khai: Anh đã được mua ma túy với bị cáo Trần Thị T 02 lần, mỗi lần 01 gói với giá 80.000 đồng/gói vào các ngày 16 và 17/11/2018 mục đích để sử dụng cho bản thân.

Người chứng kiến bà Phạm Hồng L khai: Khoảng 10 giờ ngày 27/11/2017, bà được cơ quan Công an mời chứng kiến việc kiểm tra đối tượng Trần Thị T tại quán nước gần cổng sau chợ Đ. Qua kiểm tra, phát hiện, thu giữtrong túi tạp dề Trần Thị T đang mặc có 02 gói giấy nhỏ chứa chất bột màu trắng và thu trong túi xách giả da màu đen của Trần Thị T 26 gói nhỏ chứa chất bột màu trắng. Trần Thị T khai nhận chất bột màu trắng chứa trong 28 gói giấy nhỏ bị cơ quan công an thu giữ là chất ma túy Heroine mà Trần Thị T mang theo ra quán nước để bán cho các đối tượng nghiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". Áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 194; điểm p, m khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Trần Thị T từ 07 (bẩy) đến 08 (tám) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có nghề nghiệp. Về vật chứng tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật sau giám định và 01 túi xách giả da màu đen; truy thu đối với bị cáo số tiền 160.000 đồng sung ngân sách Nhà nước trong tổng số 1.700.000đ đã thu giữ, còn lại 1.540.000 trả cho bị cáo; trả lại cho bị cáo Trần Thị T 01 điện thoại di động hiệu NOKIA cũ đã qua sử dụng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử nhẹ cho bị cáo tại ngoại để còn chăm sóc, nuôi dạy hai cháu nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lạng Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại đối với quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng.

 [2] Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai người làm chứng, người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: Trong các ngày 16 và 17/11/2017 bị cáo Trần Thị T đã có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Văn D 02 lần, mỗi lần 01 gói ma túy với giá 80.000đồng/gói. Ngoài ra bị cáo còn bán cho nhiều đối tượng nghiện khác bị cáo không nhớ rõ số lần bán và người mua. Toàn bộ số ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi ở đều là ma túy heroine bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để bán cho các đối tượng nghiện. Với hành vi trên, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 [3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túylà loại độc dược gây nghiện, rất có hại đối với sức khỏe con người, do Nhà nước độc quyền quản lý. Việc đấu tranh, phòng chống tệ nạn ma túy luôn là nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội. Chính vì vậy, mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán… trái phép chất ma túy đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

 [4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo là người già đã cao tuổi (82 tuổi), nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm p, m khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự 1999. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo không có.

 [5] Về nhân thân: Ngày 25/7/2012, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, hiện tiền án trên đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.

 [6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người già, không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [7] Xét lời luận tội và mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

 [8] Đối với Hoàng Văn D là người mua ma túy với bị cáo và đã sử dụng, nay không xác định được khối lượng ma túy Hoàng Văn D tàng trữ, nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn D. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở điều tra xử lý.

 [9] Về vật chứng của vụ án: đối với 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật là ma túy heroine hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; đối với 01 chiếc túi giả da màu đen là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ; đối với số tiền 1.700.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án; truy thu đối với bị cáo Trần Thị T số tiền 160.000 đồng do thu lời bất chính mà có để sung ngân sách Nhà nước; đối với 01 chếc điện thoại di động do không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

 [10] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm b, h khoản 1 Điều 194; điểm p, m khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị T (tức Trần Thị Kim T), tên thường gọi là "Bà K" phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Thị T 07 (bẩy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trần Thị T.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật là chất ma túy hêroine hoàn lại sau giám định và 01 túi xách giả da màu đen.

Truy thu đối với bị cáo Trần Thị T số tiền 160.000 đồng sung ngân sách Nhà nước.

Trả cho bị cáo Trần Thị T 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen có số IMEI: 353408/04/874154/8, máy cũ đã qua sử dụng và 1.700.000 đồng tiềnNgân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

 (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lạng Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2018, và lưu gửi tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Lạng Sơn theo giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 30/11/2017).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

81
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2018/HS-ST ngày 15/05/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:64/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Lạng Sơn - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về