Bản án 64/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 64/2018/HS-ST NGÀY 11/10/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 54/2018/TLST- HS ngày 22 tháng 8 năm 2018, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Võ Hữu L (HC); sinh năm 1973; HKTT: đường UM 10, khu phố 1, phường RS, thành phố RG, tỉnh KG; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Văn N; sinh năm 1937 và bà Đỗ Thị B (chết).

Tiền án có 04 tiền án:

- Ngày 30/10/2012 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 178/2012/HS-ST ngày 30/10/2012.

- Ngày 24/9/2014 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 46/2014/HS-ST ngày 24/9/2014.

- Ngày 23/5/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 108/2016/HS-ST ngày 23/5/2016.

- Ngày 26/4/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 90/2017/HS-ST ngày 26/4/2017.

Tiền sự có 01 tiền sự: Ngày 15/11/2016 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành đến ngày 05/01/2017 Giám đốc Cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng tỉnh Kiên Giang ra quyết định tạm thời đưa ra khỏi Cơ sở để phục vụ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá điều tra theo thẩm quyền.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/5/2018, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Anh Trịnh Quốc L sinh năm 1987 (vắng mặt) Trú tại: LQK, KP. 5, P. VL, TP. RG, KG Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc Đ; sinh năm 1989 (có đơn xin xét xử vắng mặt) Trú tại: NTT, KP. 2, P. AH, thành phố RG, tỉnh KG.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Hữu L là đối tượng nghiện ma túy nhưng không có nghề nghiệp ổn định, từ năm 2004 đến nay L đã 03 lần bị đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và 04 lần đi chấp hành án phạt tù về các tội “Trộm cắp tài sản và Cướp giật tài sản”. Ngày 15/02/2018 sau khi chấp hành xong hình phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” L về địa phương cư trú tại đường UM10, khu phố 1, phường RS, thành phố RG, tỉnh KG nhưng không chịu tìm việc làm để kiếm sống. Vào khoảng 13 giờ, ngày 03/5/2018 L thuê một người thanh niên (không rõ họ tên và địa chỉ) chạy xe Honda ôm chở từ Rạch Sỏi đến Tà Niên tìm tài sản lấy trộm mang đi bán lấy tiền mua ma túy để sử dụng. Khi đến xưởng cơ khí HL ở ấp VTB, xã VHH, huyện CT, tỉnh KG, Lợi quan sát thấy trong xưởng không có người trông giữ nên L đi vào bên trong nhìn thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7+ đã bị vở kính của anh Trịnh Quốc L là chủ xưởng cơ khí đang để trên mặt tủ kính, L liền lấy trộm bỏ vào túi quần rồi đi ra ngoài thuê một người thanh niên khác (không rõ họ tên và địa chỉ) chạy xe Honda ôm chở L đến cửa hàng điện thoại di động NĐ ở đường NTT, khu phố 2, phường AH, thành phố RG, tỉnh KG do anh Nguyễn Ngọc Đ làm chủ bán với giá 1.700.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại bản Kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 25 ngày 08 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện CT, tỉnh KG thể hiện: 01 điện thoại hiệu SAMSUNG Galaxy J7+ có giá trị là 6.952.000 đồng (Sáu triệu, chín trăm năm mươi hai ngàn đồng).

Sau khi bị mất trộm tài sản, anh Trịnh Quốc L đến Công an xã VHH, huyện CT, tỉnh KG trình báo sự việc và cung cấp hình ảnh của Camera quay lại hành vi của L đã thực hiện. Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 11 tháng 5 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C T, tỉnh KG đã tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Võ Hữu L về hành vi trộm cắp tài sản.

Đối với anh Nguyễn Ngọc Đ đã mua 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7+ do L mang đến bán thì anh Đ hoàn toàn không biết đây là tài sản do phạm tội mà có, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CT không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Đ là phù hợp.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7+, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CT đã thu hồi trả lại cho bị hại anh Trịnh Quốc L.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án bị phát hiện, người bị hại anh L đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Đối với anh Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu Võ Hữu L phải trả lại số tiền dùng để mua chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7+ do Lợi mang đến bán với giá 1.700.000 đồng và chi phí thay mặt kính chiếc điện thoại trên bị vở với số tiền 400.000 đồng, tổng cộng là 2.100.000 đồng. Trong quá trình điều tra, bị hại anh L đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong chi phí thay mặt kính chiếc điện thoại trên cho anh Đ với số tiền là 400.000 đồng, vì chiếc điện thoại trên đã bị vở mặt kính trước khi L lấy trộm; còn lại 1.700.000 đồng Võ Hữu L đồng ý trả lại cho anh Đ nhưng đến nay vẫn chưa trả Tại bản cáo trạng số: 63/CT- VKS- CT ngày 22/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CT, tỉnh KG đã truy tố bị cáo Võ Hữu L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CT vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Hữu L phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Võ Hữu L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX áp dụng Điều 585 và Điều 589 BLDS, xử buộc bị cáo Võ Hữu L trả lại cho anh Nguyễn Ngọc Đ số tiền 1.700.000 đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Võ Hữu L là đối tượng đã nhiều lần có tiền án về các tội “Trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản” vẫn chưa được xóa án tích. Đến khoảng 13 giờ, ngày 03/5/2018 Lợi kêu xe ôm đi xuống Tà Niên để tìm tài sản trộm cắp. Khi đi ngang xưởng Cơ khí HL trú tại ấp VT B, xã VHH, huyện CT, tỉnh KG thì phát hiện trong xưởng không có người nên L kêu xe dừng lại và trả tiền xe. Sau đó, L lén lút đi vào trong xưởng lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy J7+ đã bị vở kính của anh Trịnh Quốc L đang để trên mặt tủ kính rồi nhanh chân tẩu thoát. Theo kết quả giám định tài sản thì chiếc điện thoại mà L lấy trộm của anh Lcó giá trị là 6.952.000 đồng. Đối chiếu theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS năm 2015 thì “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:…. ; g) Tái phạm nguy hiểm”. Như vậy, việc bản thân bị cáo có nhiều tiền án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi lấy trộm điện thoại trị giá 6.952.000 đồng của anh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như đã viện dẫn như trên.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo nhận thức được “Trộm cắp tài sản” là hành vi mà pháp luật nghiêm cấm và sẽ bị xử lý nghiêm nếu như cố ý vi phạm. Mặc dù nhận thức rỏ được điều đó thế nhưng với bản chất tham lam chay lười lao động nên lúc nào bị cáo vẫn có ý định lấy trộm tài sản của người khác đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Qua hồ sơ thể hiện, ngoài lần phạm tội trên bản thân bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt về các tội “Trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản” vẫn chưa được xóa án tích. Lẽ ra khi nhiều lần sai phạm đã được cán bộ quản giáo, giáo dục, uốn nắn bị cáo phải biết sửa đổi bản thân tìm một công việc chân chính lao động để tự nuôi sống bản thân và gia đình, không là gánh nặng cho xã hội. Thế nhưng bị cáo không làm được điều đó mà trái lại khi vừa chấp hành xong hình phạt tù không lâu bị cáo lại tiếp tục lén lút lấy trộm điện thoại của anh Lâm. Điều này cho thấy bị cáo vẫn chưa biết ăn năn hối cải. Do đó, HĐXX nghị án thảo luận cần có mức án nghiêm và phải tách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời cũng nhằm ngăn ngừa chung cho xã hội.

[3] Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc định tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

5.1 Do chiếc điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy J7+ bị mất trộm đã được người bị hại anh Trịnh Quốc L nhận lại và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

5.2 Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc Đ có đơn xin xét xử vắng mặt và trong đơn anh Đ có thể hiện rỏ là anh yêu cầu bị cáo trả lại cho anh số tiền 1.700.000 đồng mà anh đã bỏ ra cầm điện thoại của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Đ nên căn cứ vào Điều 585 và Điều 589 BLHS, HĐXX ghi nhận để xem xét.

[6] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Võ Hữu L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Võ Hữu L 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 05/5/2018.

Về trách nhiệm dân sự áp dụng Điều 585 và Điều 589 BLDS, xử buộc bị cáo Võ Hữu L phải trả lại cho anh Nguyễn Ngọc Đ số tiền 1.700.000 đồng.

Về áp phí áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử buộc bị cáo Võ Hữu L phải nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

282
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2018/HS-ST ngày 11/10/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:64/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/10/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về