Bản án 64/2017/PT-HS ngày 18/08/2017 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

BẢN ÁN 64/2017/PT-HS NGÀY 18/08/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên mở phiên  tòa  xét  xử  phúc  thẩm  vụ  án  hình  sự  thụ  lý  số  57/2017/TLPT-HS  ngày 26/6/2017 đối với bị cáo Vũ Thái H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 09/05/2017 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên.

Bị cáo có kháng cáo: Vũ Thái H, sinh năm 1989; Nơi đăng ký HKTT: Khu tập thể X, xã C, huyện G, thành phố H; Trình độ văn hoá: 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Vũ Huy A và bà Lê Thị B; Vợ: Đào Hồng Th, sinh năm 1989; Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/11/2016 đến ngày 20/01/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra còn có các bị cáo Nguyễn Huy C, Nguyễn Đức Th, Phạm Văn B, Trương Đức H1, Nguyễn Công S, Nguyễn Quang S1, Nguyễn Huy C1và Nguyễn Công T không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 17/11/2016, tại lán ở tạm giành cho công nhân xây dựng đang thi công công trình bên trong công ty Trách nhiệm hữu hạn N thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên có Vũ Thái H, Nguyễn Huy C, Nguyễn Đức Th, Phạm Văn B, Trương Đức H1, Nguyễn Công S, Nguyễn Quang S1 và Nguyễn Huy C1 đều làm việc, xây dựng trong công ty N ngồi chơi, uống nước. Sau đó H, C, Th, B, H1, S, S1 và C1 rủ nhau cùng đánh bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền, tất cả đồng ý. Lúc này H nhìn thấy ở dưới gầm phản nơi nằm ngủ của công nhân có một bộ bát đĩa sứ màu trắng, H đi đến cầm bộ bát đĩa sứ rồi mở chiếc bát úp trên chiếc đĩa ra thì thấy có 04 quân vị hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá Vinataba có một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, rồi H mang bát đĩa sứ cùng 04 quân vị nêu trên lên ngồi xuống chiếc chiếu nhựa màu xanh được trải sẵn trên phản ngủ của các công nhân và cùng với C, Th, B, H1, S, S1 và C1 đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền. Sau đó có thêm Nguyễn Công T, Nguyễn Duy H2 và Đỗ Văn C2, cũng đến lán và cùng tham gia đánh bạc. H là người xóc cái. Lúc đầu quy định đặt cửa thấp nhất là 10.000đ, nhưng sau đó quy định lại là 50.000đ, không giới hạn việc người chơi đặt số tiền cao hơn. Trước khi đánh bạc H có 1.230.000đ, C1 có 450.000đ, B có 2.500.000đ, H1 có 2.090.000đ, S có 2.050.000đ, Th có 460.000đ và đều sử dụng tất cả số tiền có trong người để đánh bạc; S1 có 2.560.000đ nhưng khai chỉ sử dụng 560.000đ để đánh bạc, C có 2.360.000đ nhưng khai chỉ sử dụng 1.300.000đ để đánh bạc, Tuấn có 450.000đ nhưng khai chỉ sử dụng 200.000đ để đánh bạc, H2 có 2.400.000đ nhưng khai chỉ sử dụng 400.000đ để đánh bạc, C2 840.000đ nhưng khai không sử dụng số tiền có trong người để đánh bạc mà C2 vay của H2 100.000đ để đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc Th đã vay của S1 2.000.000đ và vay của B 500.000đ để đánh bạc; T vay của H2 200.000đ để đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 12 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm:

Thu tại chiếu bạc số tiền 10.000.000đ; thu trên người các đối tượng: H1 90.000đ, C 1.060.000đ,  S  1.550.000đ,  Th  1.600.000đ,  H2  2.000.000đ,  C2  840.000đ,  Tuấn 250.000đ.

Quá trình điều tra xác định: Tổng số tiền 3.240.000đ thu giữ trong người: H1, Th và S đều là tiền sử dụng vào việc đánh bạc. Còn Tổng số tiền 4.150.000đ thu giữ trong người: C, C2, H2, T là tiền không sử dụng vào việc đánh bạc.

Đối với Nguyễn Duy H2 và Đỗ Văn C2 đều có dấu hiệu của bệnh liên quan đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Cơ quan điều tra đã quyết định trưng cầu giám định tâm thần kinh đối với H2 và C2 và quyết định tách hành vi của H2 và C2 để xử lý sau.

Các bị cáo Vũ Thái H, Nguyễn Huy C, Nguyễn Đức Th, Phạm Văn B, Trương Đức H1, Nguyễn Công S, Nguyễn Quang S1, Nguyễn Huy C1 và Nguyễn Công T đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu ở trên và xác định khi đánh bạc không có ai canh gác và không ai phải nộp tiền hồ.

Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 09/5/2017 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Thái H, Nguyễn Huy C, Nguyễn Đức Th, Phạm Văn B,  Trương  Đức  H1,  Nguyễn  Công  S, Nguyễn  Quang  S1,  Nguyễn  Huy C1  và Nguyễn Công T đều phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999 và Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/06/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Vũ Thái H.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Thái H 01 năm 06 tháng tù, được trừ đi 02 tháng 05 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam. Bị cáo còn phải thi hành tiếp 01 năm 03 tháng 25 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành.

Ngoài ra bản án còn xử phạt bị cáo Nguyễn Huy C 01 năm 05 tháng tù; các bị cáo Nguyễn Đức Th, Phạm Văn B, Trương Đức H1, Nguyễn Công S và Nguyễn Quang S1 mỗi bị cáo 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo; Bị cáo Nguyễn Huy C1 và Nguyễn Công T mỗi bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và quyết định về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/5/2017 bị cáo Vũ Thái H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

Bị cáo Vũ Thái H giữ nguyên nội dung kháng cáo và tỏ rõ thái độ ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm xác định

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Vũ Thái H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi phân tích vị trí, vai trò; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Thái H tại phiên toà phúc thẩm phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo và lời khai của các bị cáo khác trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 12 giờ 40 phút ngày 17/11/2016, tại lán ở tạm giành cho công nhân xây dựng đang thi công công trình bên trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn N thuộc địa phận thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Vũ Thái H, Nguyễn Huy C, Nguyễn Đức Th, Phạm Văn B, Trương Đức H1, Nguyễn Công S, Nguyễn Quang S1, Nguyễn Huy C1và Nguyễn Công T đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện V bắt quả tang với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 13.240.000đ (thu tại chiếu bạc 10.000.000đ, thu trên người các bị cáo 3.240.000đ). Bởi hành vi nêu trên, các bị cáo bị Toà án nhân dân huyện V xét xử về tội Đánh bạc theo khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Thái H: Hội đồng xét xử phúc thẩm, xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an; Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá, phân hoá đúng vị trí, vai trò, nhân thân cũng như tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; áp dụng đầy đủ, chính xác tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Tại cấp phúc thẩm bị cáo có đơn trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo xin được hưởng án treo được chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị giúp đỡ, ngoài ra bị cáo còn nộp đơn xác nhận của công ty nơi bị cáo làm việc, các Huân, Huy chương của ông ngoại và các bác ruột bên nội, bên ngoại của bị cáo cùng tài liệu bị cáo mắc bệnh vô sinh đang phải chữa trị, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới bị cáo được hưởng quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự; xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, ngoài lần phạm tội này bản thân bị cáo và gia đình bị cáo luôn chấp hành tốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thật sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo không phải chịu  tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, do đó, Hội đồng xét xử, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người hữu ích, thể hiện sự khoan hồng nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo có căn cứ chấp nhận. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên toà có căn cứ chấp nhận.

[3] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xét.

[4] Bị cáo Vũ Thái H kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Thái H, sửa phần quyết định bản án hình sự sơ thẩm số 17/2017/HSST ngày 09/5/2017 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Hưng Yên, như sau:

- Áp dụng: khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53; khoản 1, khoản 2 Điều 60 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Vũ Thái H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc", thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Vũ Thái H cho UBND xã C, huyện G, Thành phố H giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu bị cáo Vũ Thái H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Bị cáo Vũ Thái H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


73
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về