Bản án 64/2017/HSST ngày 18/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 64/2017/HSST NGÀY 18/09/2017 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2017/HSST ngày 16 tháng 8 năm 2017, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2017/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

LVA, sinh ngày 26/6/1989 tại MB, Mường La, Sơn la; Nơi ĐKHKTT: Bản MB, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Thái; con ông Lò Văn V, sinh 1964, con bà Lèo Thị N, sinh 1965; có vợ là Cà Thị C, sinh 1991, có 02 con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh 2015;

Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/6/2017; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Anh HVM, sinh 1991, địa chỉ: Tiểu khu 4, thị trấn I, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt. 

Nguyên đơn dân sự: Trường Mầm non MB B, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Người đại diện hợp pháp bà Cà Thị Hiên, chức vụ Hiệu trưởng. Có đề nghị xử vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim Loan, Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bị cáo LVA bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

LVA, sinh ngày 26/6/1989 trú tại: Bản MB, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La làm thuê cho HVM, sinh 1991, địa chỉ: Tiểu khu 4, thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, đang thi công tại Trường mầm non MB 2, biết Mạnh gửi một số máy, thiết bị thi công tại Trường mầm non MB 2, Anh nảy sinh ý định chiếm đoạt số máy, thiết bị để bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/5/2017 Anh đến Trường mầm non MB 2, quan sát không có người trông coi. Anh lấy đục cạy cửa vào lấy 02 máy hàn điện, 02 máy bắn tôn, 01 máy cắt mài cầm tay, 01 cuộn dây hàn điện dài 20m. Sau khi lấy được Anh mang đến nhà Cà Thị Thu, sinh 1992 ở bản Giàn, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La, nói sợ bị xiết nợ xin gửi, Thu đồng ý cho gửi.

Sau khi thấy mất tài sản anh HVM đã trình báo Công an. Chị Cầm Thị Thu đã giao nộp số máy mà Anh gửi.

Công an thu giữ vật chứng gồm:

02 máy hàn điện trong đó một cái nhãn hiệu VISION màu vàng, một cái nhãn hiệu NANOWOLD màu đỏ;

02 máy bắn tôn một cái nhãn hiệu BOSCH màu xanh, một cái không nhãn hiệu màu xám trắng;

01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu MAKITA màu xanh đen;

01 cuộn dây điện hàn màu đen dài 20m.

Ngày 29/5/2017 Hội đồng định giá xác định: 02 máy hàn điện trong đó một cái nhãn hiệu VISION màu vàng, một cái nhãn hiệu NANOWOLD màu đỏ; 02 máy bắn tôn một cái nhãn hiệu BOSCH màu xanh, một cái không nhãn hiệu màu xám trắng; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu MAKITA màu xanh đen; 01 cuộn dây điện hàn màu đen dài 20m có trị giá là 13.917.505 đồng. Số tài sản trên được xác định là của anh HVM.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận của Hội đồng định giá nêu trên.

Cơ quan điều tra đã trả lại số tài sản trên cho anh HVM.

Đối với Trường mầm non MB 2 đã được gia đình bị cáo sửa chữa lại khóa cửa và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Đối với Cà Thị Thu, sinh 1992 ở bản Giàn, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La cho Anh gửi tài sản, nhưng không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không vi phạm pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo LVA đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.

Bản cáo trạng số: 498/KSĐT ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo: LVA về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự 1999.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo LVA phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo LVA từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Đề nghị Hội đồng xét xử ấn định thời gian thử thách cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Áp dụng khoản 2 Điều 41, khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 02 máy hàn điện trong đó một cái nhãn hiệu VISION màu vàng, một cái nhãn hiệu NANOWOLD màu đỏ; 02 máy bắn tôn một cái nhãn hiệu BOSCH màu xanh, một cái không nhãn hiệu màu xám trắng; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu MAKITA màu xanh đen; 01 cuộn dây điện hàn màu đen dài 20m cho anh HVM và anh Mạnh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Chấp nhận việc gia đình bị cáo sửa chữa lại khóa cửa cho Trường mầm non MB 2 và nhà trường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa người bào chữa cho Bị cáo phát biểu lời bào chữa đưa ra những tình tiết giảm nhẹ cho Bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

Lời nói sau cùng của Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Người bị hại anh HVM, nguyên đơn dân sự Trường mầm non MB 2 đều đề nghị được xét xử vắng mặt, sự vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt vẫn đảm bảo quyền lợi của họ.

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo LVA thừa nhận: Ngày 15/5/2017 đã lén lút, bí mật chiếm đoạt 02 máy hàn điện, 02 máy bắn tôn, 01 máy cắt mài cầm tay, 01 cuộn dây hàn điện dài 20m của anh HVM có trị giá là 13.917.505 đồng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; đơn trình báo của người bị hại, nguyên đơn dân sự, lời khai của người làm chứng, vật chứng của vụ án, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản định giá tài sản.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản trị giá 13.917.505 đồng của bị cáo LVA đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với Bị cáo do không có tài sản.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của Bị cáo: Là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự an toàn xã hội, do đó Bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, điểm p “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, gia đình bị cáo tích cực khắc phục hậu quả và chính quyền địa phương có đơn bảo lãnh, người bị hại, nguyên đơn dân sự có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện các nghĩa vụ công dân, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ các căn cứ trên xét thấy bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo theo quy định của khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự.

Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Áp dụng khoản 2 Điều 41, khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 02 máy hàn điện trong đó một cái nhãn hiệu VISION màu vàng, một cái nhãn hiệu NANOWOLD màu đỏ; 02 máy bắn tôn một cái nhãn hiệu BOSCH màu xanh, một cái không nhãn hiệu màu xám trắng; 01 máy cắt cầm tay nhãn hiệu MAKITA màu xanh đen; 01 cuộn dây điện hàn màu đen dài 20m cho anh HVM và anh Mạnh không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Chấp nhận việc gia đình bị cáo sửa chữa lại khóa cửa cho Trường mầm non MB 2 và nhà trường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo LVA phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự; khoản 4 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo LVA 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 18/9/2017.

Giao bị cáo LVA cho Ủy ban nhân dân xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho LVA, nếu không bị tạm giam về tội phạm khác.

Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Vật chứng vụ án và trách nhiệm bồi thường: Áp dụng khoản 2 Điều 41, khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự.

Chấp nhận việc Cơ quan điều tra đã trả lại 02 máy hàn điện; 02 máy bắn tôn; 01 máy cắt cầm tay; 01 cuộn dây điện hàn dài 20m cho anh HVM và anh HVM không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Chấp nhận việc gia đình bị cáo sửa chữa lại khóa cửa cho Trường mầm non MB 2 và nhà trường không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án. Buộc LVA phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/9/2017.

Người bị hại, nguyên đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.


93
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 64/2017/HSST ngày 18/09/2017 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:64/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:18/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về