Bản án 64/2017/HSST ngày 08/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VŨ THƯ, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 64/2017/HSST NGÀY 08/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 08 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã S, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2017/HSST ngày 18 tháng 8 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2017/HSST- QĐ ngày 28/8/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân H, sinh năm 1985;

Nơi cư trú: Số nhà 18/4, đường G, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Xuân N, sinh năm 1944 và bà Triệu Thị H, sinh năm 1955.

Nhân thân: Năm 2014 tham gia nghĩa vụ quân sự, tháng 01/2016 xuất ngũ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2017 đến nay.

Bị cáo trích xuất, có mặt.

- Người làm chứng: 1. Anh Vũ Quang C, sinh năm 1985;

Trú tại: Tổ M, thị trấn V, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

2. Ông Đào Trọng T, sinh năm 1951; Trú tại: Tổ A, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình.

Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/6/2017, tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện V thuộc địa phận tổ M, thị trấn V, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Vũ Thư phát hiện bắt quả tang Nguyễn Xuân H tàng trữ 01 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong là lớp giấy tráng kim loại màu vàng dấu tại giữa lớp vải và lớp xốp của mũ bảo hiểm bị cáo đang đội trên đầu. Kết luận giám định số 199/KLGĐ-PC54 ngày 04/6/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận mẫu gửi giám định thu của bị cáo là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có trọng lượng 0, 3959 gam (Không phẩy ba nghìn chín trăm năm mươi chín gam). Ngoài ma túy, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel – A126 vỏ màu đen đã cũ; 01 mũ bảo hiểm màu vàng và 01 xe mô tô biển số đăng ký 18X1 - 2806.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Do bị nghiện ma túy nên khoảng 19 giờ 45 phút ngày 03/6/2017, bị cáo mang theo 100.000 đồng, điều khiển xe mô tô biển số đăng ký 18X1 – 2806 từ nhà đi đến khu vực ngõ Dầu Khí thuộc phường Trường Thi, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tìm mua Hêrôin để sử dụng. Khi đến đầu ngõ Dầu khí bị cáo đã gặp và mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ 100.000đ tiền người này nhận tiền và đưa cho bị cáo một gói nhỏ gói bằng nilon màu hồng. Xác định đã mua được Hêrôin nên không mở ra xem mà bỏ ngay vào giữa lớp vải và lớp xốp của mũ bảo hiểm, đội lên đầu rồi điều khiển xe mô tô sang tỉnh Thái Bình chơi.

Lời khai của người làm chứng là ông Đào Trọng T và anh Vũ Quang C; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vũ Thư lập vào hồi 21 giờ, Biên bản niêm phong vật chứng lập hồi 22 giờ 20 phút ngày 03/6/2017 tại trụ sở Uỷ ban nhân dân thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Bản Cáo trạng số 66/KSĐT ngày 17 tháng 8 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vũ Thư giữ nguyên quan điểm truy tố và: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; khoản 1 Điều 249, Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy hoàn lại sau giám định; Trả lại bị cáo 01 mũ bảo hiểm, 01 điện thoại hiệu Massell-A126.Về chiếc xe mô tô biển số đăng ký 18H2-2352, đề nghị chấp nhận Cơ quan điều tra Công an huyện Vũ Thư tách ra, xử lý sau. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên là các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai khiếu nại hay có ý kiến gì.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong vật chứng; Bản kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/6/2017, tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa huyện V thuộc địa phận tổ M, thị trấn V, huyện V, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Xuân H đã có hành vi cất giấu trái phép 0,3959 gam ma túy, loại Hêrôin trong giữa lớp vải và lớp xốp mũ bảo hiểm bị cáo đang đội trên đầu, mục đích để bị cáo sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo đã biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; Bị cáo có thời gian tham gia và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự vì vậy cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Ngày 13/9/2016, Tòa án nhân dân Tối cao có Công văn số 276/TANDTC-PC hướng dẫn áp dụng các quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 trong đó có tội liên quan đến ma túy. So với quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 thì quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có lợi hơn cho người phạm tội nên cần áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội; Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

 [6] Về vật chứng của vụ án:

- 0,3693 gam ma túy, loại Hêrôin thu của bị cáo được hoàn lại sau giám định cần áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, tiêu hủy.

- Về 01 chiếc xe mô tô quản lý của bị cáo có nhãn hiệu 18X1 – 2608 có số khung RMNWCHWMN6H00033, số máy VHLTM152FMH100033. Tài liệu điều tra xác định chiếc xe trên có đăng ký biển số 18H2 – 2352, mang tên ông Trương Quốc T, trú tại 4/15, đường T, thành phố N, tỉnh Nam Định. Bị cáo khai đã mua của một người không quen biết từ năm 2016 với giá 2.000.000 đồng, không có giấy tờ mua bán, tặng cho nên Cơ quan điều tra tách ra, xử lý sau là có căn cứ, cần chấp nhận.

- 01 mũ bảo hiểm và 01 điện thoại hiệu Massell-A126 quản lý của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo chưa xác định được tên và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Điều 7, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/6/2017.

3/ Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,3693 gam ma túy, loại Hêrôin thu của bị cáo được hoàn lại sau giám định và bao gói trong bao niêm phong số 199/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.

- Trả lại bị cáo 01 mũ bảo hiểm, 01 điện thoại hiệu Massell-A126 đã cũ nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

- Chấp nhận việc cơ quan điều tra tách việc xử lý giải quyết chiếc xe mô tô đã thu của bị cáo có số khung RMNWCHWMN6H00033, số máy VHLTM152FMH100033.

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 98, 99 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thihành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/9/2017.


61
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về